MỘT SỐ THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ SAU 40 NĂM ĐỔI MỚI - “THÀNH TRÌ” VỮNG CHẮC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC
Tóm tắt: Trải qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đạt được không chỉ là minh chứng cho trí tuệ, bản lĩnh của Đảng, mà còn tạo nên một “thành trì thực tiễn” vững chắc, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đó không chỉ là những kết quả khẳng định sự phát triển của nền kinh tế mà còn là cơ sở khách quan, là chân lý không thể phủ nhận, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chúng ta giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khoá: thành tựu kinh tế, luận điệu xuyên tạc.
1. Đặt vấn đề
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI được ví như “một bản anh hùng ca” về sự tự cường. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ Đại hội VI năm 1986 đến nay), Việt Nam đã bước qua một chặng đường chuyển mình sâu sắc, được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là “câu chuyện kỳ tích” về phát triển. Nếu như năm 1986, đổi mới là một “cuộc sinh tử” để cứu vãn nền kinh tế đang bên bờ vực thẳm với lạm phát phi mã lên tới 774,6%, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đất nước thiếu lương thực, phải nhập khẩu gạo thì đến năm 2026, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam vươn lên bước vào ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng, giữ vị trí ngày càng cao trên bản đồ kinh tế - chính trị thế giới.
Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra quyết định mang tính bước ngoặt, tiến hành đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, mở rộng quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh cho doanh nghiệp và hộ dân hướng tới xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ban hành nhiều bộ luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân, thu hút FDI…; thực hiện đường lối đối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa”, chủ động hội nhập quốc tế...
Sự thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam không đến từ sự may mắn hay vay mượn. Đó chính là kết quả của quá trình bền bỉ, kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, được cụ thể hóa bằng trí tuệ của Đảng và sức mạnh của toàn dân, khi ý Đảng lòng dân được hoà làm một. Đồng thời là minh chứng sinh động, luận cứ sắc bén để đánh bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
2. Những con số “biết nói” về quy mô quốc gia – lời đáp trả đanh thép cho luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Khi bước vào đổi mới, Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới với GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 80 -100 USD, đến năm 2025 đạt 5.026 USD/người[1]. Như vậy, so với năm 1986 con số này tăng gấp gần 56 lần. Với mức này, Việt Nam đã vượt qua “bẫy thu nhập trung bình thấp”, đang củng cố vững chắc vị thế quốc gia và gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao (theo chuẩn mới của World Bank), là cơ sở thực tiễn quan trọng cho kỷ nguyên mới để Việt Nam thực hiện khát vọng đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Quy mô GDP Việt Nam năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đã tăng trưởng quy mô kinh tế gấp gần 70 lần sau 4 thập kỷ. Việt Nam không còn là “vùng trũng” mà đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 32 trên thế giới và xếp thứ 4 trong khu vực ASEAN[2]. Từ điểm xuất phát (1986) là một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, bị bao vây cấm vận ngặt nghèo, lạm phát phi mã đến sự bứt phá về quy mô quốc gia qua thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh sức sống mãnh liệt của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Không chỉ là sự nhảy vọt về GDP mà còn là sự chuyển hóa trong chất lượng sống của Nhân dân. Chỉ số thu nhập bình quân đầu người là minh chứng đanh thép nhất để phản bác luận điệu “phát triển không vì dân”. Từ mức thu nhập dưới 100 USD/năm (thời điểm 1986), đến năm 2025, thu nhập bình quân của người dân Việt Nam đã đạt 5.026 USD[3]. Việc chuyển mình từ một quốc gia thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung bình cao là một kỳ tích mà Việt Nam đạt được.
Sức mạnh của một quốc gia còn đo bằng năng lực giao thương quốc tế. Năm 1986, kim ngạch xuất nhập khẩu của chúng ta chỉ ở mức khiêm tốn khoảng 3 tỷ USD, chủ yếu là xuất khẩu thô và tiểu ngạch. Đến năm 2025, đạt khoảng 930,07 tỷ USD[4] - kỷ lục chưa từng có trong lịch sử hội nhập kinh tế quốc tế, đưa Việt Nam chính thức gia nhập Nhóm 20 nền thương mại lớn nhất thế giới. Đây không chỉ là kỷ lục mới về quy mô, mà còn mang ý nghĩa đặc biệt đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, thương mại toàn cầu phục hồi yếu, rủi ro địa chính trị, địa kinh tế gia tăng. Đặc biệt, Việt Nam liên tục duy trì xuất siêu trong hơn gần một thập kỷ qua (năm 2023 xuất siêu kỷ lục hơn 28 tỷ USD). Dự trữ ngoại hối quốc gia cũng tăng mạnh, tạo ra “lá chắn” vững chắc trước các cú sốc kinh tế toàn cầu. Việc Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng công nghệ cao (bán dẫn, điện tử) là bằng chứng cho thấy quy mô kinh tế không chỉ rộng mà còn đang tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
3. Thành tựu về xoá đói, giảm nghèo – “đập tan luận điệu về “Việt Nam vi phạm nhân quyền”
Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để công kích chế độ ta. Họ cố tình tách rời “quyền chính trị” khỏi “quyền sống, quyền phát triển”, hòng bóp méo bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, kỳ tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam sau 40 năm đổi mới chính là bằng chứng thực tế khách quan nhất, khẳng định rằng: Tại Việt Nam, con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển.
Từ “Cánh cửa sinh tồn” đến “Khát vọng làm giàu” – một kỳ tích giảm nghèo của Việt Nam. Nếu như năm 1986, tỷ lệ hộ nghèo cả nước chiếm trên 60%, thì đến năm 2006 đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc (MDGs) về xoá đói giảm nghèo (hoàn thành trước 10 năm) và đến nay, con số này đã giảm xuống mức kinh ngạc là 1,3% năm 2025. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, đạt trên 3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi[5]. Đây không chỉ là những con số thống kê có giá trị trong phạm vi của một quốc gia để giúp hàng chục triệu số phận thay đổi, hàng triệu gia đình có cơm ăn, áo mặc, nhà ở và điều kiện chăm sóc y tế mà còn mang tầm vóc quốc tế. Từ một nước phải nhận viện trợ lương thực, Việt Nam đã vươn lên trở thành “kho lương” của thế giới, đảm bảo an ninh lương thực cho 100 triệu dân và xuất khẩu hàng triệu tấn gạo mỗi năm.
Theo Báo cáo của UNDP, Chỉ số HDI của Việt Nam liên tục tăng trưởng, đạt mức 0,766 vào năm 2025, thuộc nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người cao trên thế giới. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ước đạt 95,2% dân số. Tuổi thọ và chỉ số sức khoẻ người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình từ lúc sinh ra là 74,8 năm; số năm sống khoẻ khoảng 67 năm… Các chính sách về tín dụng chính sách xã hội đã giúp hàng triệu hộ đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Vậy thì, một quốc gia “vi phạm nhân quyền” không bao giờ có thể ưu tiên nguồn lực khổng lồ để chăm lo cho quyền được sống và quyền được ấm no của người dân một cách bền bỉ như vậy. Điều này được các tổ chức quốc tế thừa nhận một cách khách quan, cho rằng sự phát triển của Việt Nam mang tính nhân văn sâu sắc. Việc Việt Nam hai lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2023 -2025, nhiệm kỳ 2026-2028) với số phiếu rất cao là sự khẳng định của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và thành tựu nhân quyền của Việt Nam.
4. Việt Nam - minh chứng rõ nét bác bỏ luận điệu “Việt Nam phụ thuộc vào bên ngoài”
Một trong những luận điệu xuyên tạc phổ biến mà các thế lực thù địch thường rêu rao rằng: “Kinh tế Việt Nam phát triển dựa trên ngoại lực, phụ thuộc hoàn toàn vào các nước lớn và dễ tổn thương trước các biến động quốc tế”. Từ một đất nước từng bị bao vây, cô lập, hiện nay Việt Nam là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Việc ký kết và thực thi hiệu quả 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) (tính đến tháng 2/2026) đã kết nối Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, thúc đẩy tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Nhờ đó, Việt Nam nằm trong nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thuộc nhóm 20 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất từ năm 2019 đến nay; đồng thời, là một trong 10 nước có lượng kiều hối lớn nhất thế giới[6]. Giai đoạn 2021-2025: Trong khi thế giới chao đảo vì lạm phát và đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 30 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới thuộc nhóm G20. Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia, bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền và 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài[7]. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đối ngoại chuyên ngành tiếp tục được mở rộng, trở thành bộ phận quan trọng góp phần tạo nên những thành tựu toàn diện của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Nhờ đó đã thúc đẩy kinh tế đối ngoại của đất nước với các đối tác ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, tạo những cơ sở vững chắc để đất nước đón nhận dòng vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Sau 40 năm đổi mới, những thành tựu về phát triển kinh tế cùng với chính trị-xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã tạo cho đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế chưa từng có. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng như ASEAN. Liên Hợp quốc, Tiểu vùng Mê Công, APEC, UNESCO… Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên Hợp quốc như Uỷ viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025…
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với hành trang là tiềm lực, vị thế và uy tín sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đang tự tin hướng tới mục tiêu 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó không chỉ là đích đến của kinh tế, mà là biểu tượng của một dân tộc không bao giờ khuất phục trước gian khó, luôn biết cách tự đổi mới để trường tồn và tỏa sáng. Cơ đồ này là của chúng ta, vị thế này là của dân tộc ta và tương lai hùng cường của Việt Nam chính là câu trả lời quyết định nhất, đập tan mọi bóng tối của sự xuyên tạc, cùng nhau xây dựng một Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
ThS.Trần Thị Hoài
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, tập I, tập II
2. Tổng Bí thư Tô Lâm: Vươn mình trong hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 1059, tháng 4-2025
3. Vũ Văn Hà, Phát huy bài học kinh nghiệm sau 40 năm đổi mới đất nước, Báo Nhân dân, https://nhandan.vn/phat-huy-bai-hoc-kinh-nghiem-sau-40-nam-doi-moi-dat-nuoc-post921909.htm
[1] Cục Thống kê Việt Nam: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
[2] Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới 2024 của IMF
[3] Cục Thống kê Việt Nam: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025
[4] Nguồn Cục Hải quan Việt Nam: Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12 và năm 2025
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.I, tr. 52
[6] Tổng Bí thư Tô Lâm: Vươn mình trong hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 1059, tháng 4-2025, tr. 10
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.II, tr. 144-145






