Thứ hai, 01/06/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI (19/5/1890 - 19/5/2026)!

Thứ hai, 01 Tháng 6 2026 07:53

KHÁT VỌNG CỦA CHÀNG TRAI “VĂN BA” VÀ BƯỚC NGOẶT CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC

Tóm tắt: Trước bối cảnh đất nước lầm than và các phong trào yêu nước đều thất bại, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nuôi chí ra nước ngoài tìm con đường cứu nước. Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Bác rời bến cảng Nhà Rồng trên con tàu La Touche De Tréville. Qua nhiều năm bôn ba, Người đã tìm thấy con đường cách mạng vô sản phù hợp cho dân tộc nhờ Luận cương của Lê-nin. Năm 1941, Người trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, mở đầu cho chuỗi thắng lợi hiển hách của dân tộc như: Cách mạng tháng Tám (1945), chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) và đại thắng mùa xuân 1975 thống nhất đất nước. Hành trình lịch sử ấy cùng tư tưởng của Bác vẫn luôn là ngọn đuốc soi sáng cho các thế hệ Việt Nam tiếp tục vững bước xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.

Từ khóa: Bác Hồ, tìm đường cứu nước, cách mạng vô sản.

1. Bối cảnh lịch sử và mệnh lệnh cấp thiết của thời đại

Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng đánh vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược. Do thiếu đường lối chỉ đạo đúng đắn và quyết tâm kháng chiến của triều đình nhà Nguyễn, cuối cùng Việt Nam đã rơi vào tay thực dân Pháp. Hiệp ước ngày 06/6/1884 (Hiệp ước Patơnốt) đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến nước ta trước thế lực xâm lăng, kết thúc giai đoạn tồn tại của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập.

Trái ngược với thái độ của triều đình Huế, ngay từ đầu Nhân dân Việt Nam đã đứng dậy chiến đấu chống Pháp. Cuộc chiến tranh Nhân dân bền bỉ, kiên cường, có nhiều phong trào của các văn thân sĩ phu yêu nước nổ ra như phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông kinh nghĩa thục của Phan Bội Châu...nhưng tất cả đều có chung một điểm kết: thất bại. Đời sống Nhân dân lầm than, các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam không chỉ bị bóc lột về kinh tế, mà còn phải chịu nỗi nhục mất nước. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bọn phản động tay sai ngày càng sâu sắc. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng Nhân dân lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Trước tình hình đó, việc tìm ra một con đường cứu nước mới, một giai cấp tiên tiến lãnh đạo đấu tranh trở thành mệnh lệnh cấp thiết của lịch sử.

2. Nuôi dưỡng chí lớn từ thuở thiếu thời

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho tại vùng quê Nghệ An giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh quật khởi, người thanh niên Nguyễn Tất Thành từ nhỏ đã được chứng kiến sự thất bại của các phong trào chống Pháp. Từ nhỏ Người được tiếp xúc với các thầy giáo Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân; được nghe nhiều câu chuyện qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Cùng thời gian đó, Người còn được nghe kể về những hành động của những vị vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân. Người dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc tiền bối trước cảnh nước mất, nhà tan. Vì vậy, từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc đã có lòng căm thù bọn bán nước và bọn cướp nước, có chí đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào.

Do vậy, từ nhỏ, khi được được thân phụ cho đi học Tại Trường Tiểu học Vinh (Nghệ An), Nguyễn Tất Thành chú ý đến ba từ tiếng Pháp được sơn vào gỗ gắn phía trên bảng đen: Tự do (Liberté) - Bình đẳng (Égalité) - Bác ái (Fraternité). Tìm hiểu những từ này, Nguyễn Tất Thành biết đó là khẩu hiệu nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Đây là điều hoàn toàn mới lạ, nó rất khác với những điều mà Anh được học trong sách vở, khác với cả những cảnh được mắt thấy tai nghe từ những người Pháp đối xử với đồng bào mình. Người nhớ lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế... Trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người ta như con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”[1].

Như vậy, Khác với các bậc tiền bối đi trước, Nguyễn Tất Thành quyết định sang phương Tây để tìm hiểu xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi trở về giúp đỡ đồng bào. Người nhận thức đúng đắn rằng: Muốn đánh đổ kẻ thù, trước hết phải biết rõ kẻ thù đó. 

3. Bước ngoặt lịch sử tại bến cảng Nhà Rồng

Rời Quy Nhơn, Bác dừng chân ở Phan Thiết. Ở đây, Anh xin vào làm trợ giáo (moniteur), được giao dạy một số môn, đồng thời phụ trách các hoạt động ngoại khoá của Trường Dục Thanh, một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907. Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ (Montesquieu). Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc ý chí xuất dương của Người.

Tháng 02/1911, nung nấu quyết tâm đi tìm một con đường cứu nước mới, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từ Phan Thiết vào Sài Gòn, vượt qua những khó khăn khắc nghiệt của thời tiết, tìm cơ hội thực hiện ý định cháy bỏng đó. Đây chính là bước ngoặt quan trọng, một sự lựa chọn lịch sử có ý nghĩa quyết định, mở đầu cho quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành. Ở đây, Anh đã làm quen với những thanh niên cùng lứa tuổi đang làm thợ hoặc học nghề ở trường kỹ nghệ thực hành, làm quen với những hiệu giặt là ở gần cảng Nhà Rồng chuyên giặt quần áo cho các thủy thủ trên tàu của Pháp. Trong những ngày đó, anh thường xuyên đến bến cảng Sài Gòn. Hình ảnh những chiếc tàu neo bến làm lòng anh không yên.

Ngày 05/6/1911, trên con tàu La Touche De Tréville từ cảng Sài Gòn, tự giới thiệu là Văn Ba xin làm phụ bếp, vị thuyền trưởng hỏi anh có thể làm được gì trong nhà bếp, Anh chỉ có một câu trả lời duy nhất: “Tôi có thể làm tất cả những gì ông cần!”. Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định xuất dương tìm đường cứu nước của một con người mà lịch sử đã chứng minh là táo bạo, chính xác, sáng suốt và phi thường.

4. Hành trình gian khổ và bước ngoặt tìm thấy ánh sáng Cách mạng

Làm việc tất bật trên tàu từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, người thanh niên gầy gò ấy luôn hoàn thành xuất sắc mọi công việc, kể cả những việc hoàn toàn mới mẻ như gọt củ cải, khoai tây. Bằng sự chăm chỉ và chân thành, Anh đã khiến thủy thủ và đầu bếp trên tàu nể phục, kết bạn và học hỏi được ngoại ngữ. Cũng từ đây, Anh rút ra kinh nghiệm đầu tiên quý giá: Cũng có cả những người Pháp tốt bụng. Nhận thức này đã đặt nền móng quan trọng cho tư duy ngoại giao của Người sau này đối với đất nước và con người Pháp.

Cuộc hành trình lịch sử kéo dài qua 3 đại dương, 4 châu lục (Á, Âu, Phi, Mỹ) với gần 30 quốc gia và hàng trăm thành phố lớn nhỏ đã giúp Nguyễn Tất Thành thấu hiểu bản chất của thế giới. Người nhận ra rằng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[2].

Tháng 7 nǎm 1920 qua báo Nhân đạo (L'Humanité) Pháp, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, Người đã viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[3].

Từ bước ngoặt vĩ đại đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[4].

5. Trở về lãnh đạo Cách mạng và những trang sử vàng chói lọi

Năm 1941, sau hơn 30 năm bôn ba nước ngoài, rời xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiêu biểu là cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Pháp, một chiến công vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cổ vũ phong trào chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc trên thế giới.

Tiếp nối xuyên suốt tư tưởng cách mạng của người, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên đại thắng mùa xuân 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Đây là một trong những thắng lợi hiển hách nhất của dân tộc Việt Nam, là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất và tiếp tục vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

6. Sống mãi cùng non sông đất nước

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu là một cuộc hành trình không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Dù Bác đã đi xa, nhưng trong lòng các thế hệ người dân Việt Nam, Người vẫn sống mãi. Tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác tiếp tục là ngọn đuốc soi rọi con đường đi lên của đất nước.

Nhắc lại hành trình cứu nước từ bến cảng Sài Gòn, mỗi chúng ta lại thêm khắc ghi lòng biết ơn vô hạn đối với những hy sinh lớn lao của Người. Ngày nay, bước vào một kỷ nguyên mới của hội nhập và phát triển, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta nguyện vững bước trên con đường cách mạng đã chọn, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước nguyện sinh thời của Bác./.

ThS. Huỳnh Văn Thông

Khoa Nhà nước và Pháp luật


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 1, tr. 461

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 1 tr. 287.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 12 tr. 562.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15 tr. 588.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001740856
Đang truy cập : 2