QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay; đánh giá thực trạng bảo vệ môi trường ở nước ta thông qua những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại sau 5 năm triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021–2025. Trên cơ sở đó làm rõ các quan điểm và giải pháp trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng về bảo vệ môi trường.
Từ khóa: Văn kiện XIV, bảo vệ môi trường.
Đặt vấn đề: Nếu như Cương lĩnh 1991 cho đến các Nghị quyết từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, vấn đề bảo vệ môi trường chỉ được xem là hệ quả cần khắc phục sau khi phát triển kinh tế, chưa được xác định là nhiệm vụ trung tâm thì đến Đại hội XIV (2026), quan điểm của Đảng ta về bảo vệ môi trường đã có bước phát triển mới, toàn diện và sâu sắc hơn, bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ bổ trợ mà được đặt ngang tầm với phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội; kiên quyết “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế”, phát triển nhanh phải gắn với bền vững. Đây là một trong những điểm mới quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng, cần được nghiên cứu và làm rõ.
1. Sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường
Sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: kinh tế tăng trưởng liên tục, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định. Hiện nay, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển với mục tiêu phấn đấu tới năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong những năm gần đây, nước ta phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức về môi trường như: cạn kiệt tài nguyên; suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài sinh vật bị thu hẹp môi trường sống hoặc có nguy cơ tuyệt chủng; ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí, tiếng ồn; diện tích và chất lượng rừng tự nhiên suy giảm, mất chức năng phòng hộ; xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, sạc lỡ, xói mòn, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm rét hại bất thường…..Những vấn đề trên không chỉ gây thiệt hại lớn về người, tài sản, tài sản, ảnh hưởng đến sức khỏe, đến chất lượng cuộc sống của người dân mà còn trở thành rào cản đối với quá trình phát triển của đất nước. Thực tiễn đó đặt ra một câu hỏi lớn: “liệu sự phát triển kinh tế đạt được bằng việc đánh đổi môi trường có thực sự là sự phát triển bền vững hay không?” Rõ ràng là không, tăng trưởng kinh tế sẽ không thể duy trì lâu dài nếu môi trường sống tiếp tục bị suy thoái, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, các hệ sinh thái bị phá vỡ và con người bị đe dọa. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ môi trường không còn là sự lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước. Đây không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Đảng giữ vai trò định hướng, lãnh đạo và đề ra những chủ trương, giải pháp phù hợp.
2. Thực trạng bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta
Sau 5 năm triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021–2025, Đại hội XIV của Đảng đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: việc thu gom, xử lý chất thải nhất là ở các khu công nghiệp được ngày càng được kiểm soát chặt chẽ hơn; tình trạng ô nhiễm ở các lưu vực sông, đô thị và làng nghề từng bước được khắc phục. Nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã được xử lý triệt để. Hoạt động bảo vệ, phát triển, nâng cao chất lượng rừng tiếp tục được chú trọng, độ che phủ rừng được duy trì ổn định. Công tác bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng và khu bảo tồn biển có nhiều chuyển biến tích cực; các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh được thúc đẩy phát triển. Các giải pháp phòng, chống thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long và cùng với việc bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, ứng phó với các thách thức về nguồn nước được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo. Đến năm 2025, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại đạt hoảng 97% tỉ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt khoảng 95%; tỉ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 95,5%; tỉ lệ che phủ rừng là 42,03%[1].
Tuy nhiên, hiện nay hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn những bất cập, chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ý thức chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường còn thấp. Bảo vệ môi trường chưa trở thành ý thức, hành động, thói quen, nếp sống, văn hoá của người dân. Các chế tài để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ sức răn đe và thiếu hiệu quả; quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu trên một số mặt còn lỏng lẻo, xu hướng chạy theo lợi nhuận và lợi ích trước mắt trong khai thác tài nguyên chậm được khắc phục; chậm chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm, tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới còn chậm[2]. Chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai còn có mặt hạn chế; năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu chưa có bước cải thiện rõ rệt. Các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính còn hạn chế[3]; các mô hình kinh tế tuần hoàn xanh, kinh tế xanh còn mang tính tự phát, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.
3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường[4]. Theo đó, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng chặt chẽ, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, có tính khả thi cao; có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thói quen, hành vi để toàn dân cùng chung tay bảo vệ môi trường.
Thứ hai, phải quản lý, bảo vệ chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, theo nguyên tắc thị trường, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên[5]. Điều này đòi hỏi công tác quản lý phải được thực hiện nghiêm túc, khoa học, hợp lý và hiệu quả tránh tình trạng khai thác, sử dụng đất đai, rừng, nguồn nước, khoáng sản hay các nguồn lực tự nhiên khác một cách quá mức, tràn lan, chồng chéo gây lãng phí, cạn kiệt tài nguyên hoặc làm suy thoái môi trường; quản lý hiệu quả chất thải rắn, giảm thiểu rác thải nhựa. Đồng thời ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, tăng cường bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, các khu bảo tồn thiên nhiên, các loài động, thực vật quý hiếm; trồng nhiều cây xanh, tái tạo cảnh quan sinh thái, kiến tạo môi trường sống thuận lợi cho các loài sinh vật phát triển.
Thứ ba, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu[6]. Xây dựng các phương án ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng ngành và từng lĩnh vực; đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng, hệ thống quan trắc, giám sát khí tượng thủy văn để dự báo, cảnh báo các hiện tượng thời tiết cực đoan, phòng chống thiên tai, kịp thời cung cấp thông tin cho chính quyền và người dân nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản.
Thứ tư, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra[7], theo dõi, phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường như chặt phá rừng, săn bắt và buôn bán các loài động vật hoang dã, hủy hoại hệ sinh thái, khai thác tài nguyên trái phép; xả thải vượt quy chuẩn, chôn lấp hoặc đổ chất thải không đúng quy định, gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí và các hành vi khác làm ảnh hưởng đến môi trường. Tích cực ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như AI, IoT, dữ liệu lớn để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ môi trường.
Thứ năm, chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế, thân thiện với môi trường. Tăng cường bảo vệ môi trường theo phương châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái; lấy bảo vệ sức khoẻ Nhân dân làm mục tiêu hàng đầu[8].
Kết Luận
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy, khẳng định rằng bảo vệ môi trường không chỉ là yêu cầu cấp thiết trước những thách thức của biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy giảm tài nguyên, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước, kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Việc triển khai đồng bộ và hiệu quả các giải pháp mà Đại hội đề ra sẽ góp phần tạo nền tảng vững chắc, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Trần Ngọc Bảo Vy
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. I, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
2. PGS, TS Lê Thị Thanh Hà, “Điểm mới về bảo vệ môi trường trong Dự thảo các văn kiện đại hội XIV của Đảng”, tạp chí lịch sử Đảng.
3. PGS, TS Lê Thị Thanh Hà, “Biện chứng giữa kinh tế - xã hội - môi trường trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, những vấn đề đặt ra trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch hiện nay”, kỷ yếu Hội thảo khoa học, 2026.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 313.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 130.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 335.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 380.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 277.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 380.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 380.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 277.






