Ánh sáng Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa - bước ngoặt mở đường kiến tạo trong hành trình hiện thực hóa khát vọng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Cách đây 115 năm, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên đường ra đi tìm đường cứu nước với khát vọng cháy bỏng là độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Trải qua những năm tháng hoạt động không mệt mỏi ở nước ngoài, trong phong trào cách mạng của Đảng Xã hội Pháp, Người đến với Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, giải quyết cơn khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và ngày nay vẫn đang tiếp tục soi sáng cho hành trình đổi mới đất nước.
Từ khóa: Ánh sáng Luận cương Lênin; Hồ Chí Minh; giải phóng dân tộc.
I. Đặt vấn đề
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đã trở thành ngôi sao dẫn đường trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chúng tôi, … chỉ ra nhân tố quyết định, mạnh mẽ nhất và hiệu quả nhất để giành thắng lợi - đó là Đảng”(1). Người đến với Luận cương của Lênin không hẳn là một sự tình cờ, mà là kết quả của quá trình tìm tòi và hoạt động thực tiễn sôi nổi. Trước khi đọc được Luận cương của Lênin, mặc dù khát khao chảy bỏng với mong muốn thấy được con đường phía trước để cứu nước, cứu dân, nhưng trong tổ chức Đảng Xã hội Pháp, với Người “trong các cuộc họp chi bộ, tôi chỉ ngồi nghe người ta nói; tôi cảm thấy người nào cũng có lý cả, tôi không phân biệt được ai đúng và ai sai”(2). Nhưng từ khi đọc được Luận cương của Lênin, Người đã “xông vào những cuộc tranh luận. … tham gia thảo luận sôi nổi”. “… đập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tế thứ ba”(3). Có thể khẳng định từ “lý luận bản lề” trong Bản sơ thảo lần thứ nhất của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sự của cách mạng Việt Nam. Khi “lý luận” và “kinh nghiệm” thực tiễn “đủ độ chín”, Người đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác. Cho đến nay, Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị tư tương của Luận cương trong điều kiện, bối cảnh mới để Việt Nam “vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
II. Nội dung
1. Vượt qua sự bế tắc của các khuynh hướng yêu nước và quyết định xoay trục lịch sử
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam chìm trong đêm trường nô lệ với cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Các phong trào yêu nước liên tiếp bùng nổ nhưng đều đi vào ngõ cụt: Khuynh hướng phong kiến (Cần Vương) đã lỗi thời trước sức mạnh thực dân; các khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh, dù mang tinh thần quả cảm, vẫn thất bại do chưa tìm thấy con đường đấu tranh phù hợp. “Nhân dân Việt Nam khao khát độc lập hàng bao thế kỷ, ..Nhưng trước khi có Cách mạng Tháng Mười, các cuộc đấu tranh đó đều không thành công, vì nó giống như con tàu trôi lênh đênh không có la bàn chỉ hướng”(4). Trong “sự bế tắc” về đường lối ấy, quyết định ra đi tìm đường nước theo một “lối đi riêng” đã không chỉ thay đổi số phận của một con người, mà còn xoay chuyển toàn bộ bánh xe lịch sử của một dân tộc và có ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng thế giới trong thế kỷ XX.
Sự độc lập và sáng tạo của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét qua việc Người khước từ con đường “Đông du” sang Nhật Bản để quyết định “xoay trục” sang phương Tây. Đây không đơn thuần là thay đổi về địa lý, mà là một sự thay đổi về tư duy chính trị. Người muốn trực tiếp thâm nhập vào “sào huyệt” của kẻ thù để tìm hiểu “những gì ẩn đằng sau” khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”. Bằng ý chí và quyết tâm của mình, Người chọn con đường vất vả nhất, khó khăn nhất, chấp nhận làm “cu li”…nhưng mục đích của Người rất rõ ràng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(5).
2. Cuộc gặp gỡ lịch sử với Luận cương của V.I. Lênin và sự thức tỉnh về con đường giải phóng cho dân tộc
Trải qua quá trình sống, làm việc, tham gia các hoạt động chính trị ở ngay trên đất Pháp, là một người đang đi tìm con đường để cứu nước nên Người đã trăn trở: “Điều mà tôi muốn biết hơn cả - và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp - là: Vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?.. câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời: Đó là Quốc tế thứ ba,... Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo”(6). Khi những trăn trở đã được “gợi mở” Người đã “bừng tỉnh” với nhận thức lý luận của mình. Người khẳng định: “Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(7).
Bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, do V.I. Lênin soạn thảo và trình bày tại Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 19-7 đến ngày 7-8-1920, với 12 nội dung (8) là sự kết tinh giá trị khoa học, thực tiễn và đáp ứng được phương pháp luận cho cách mạng các nước thuộc địa, phụ thuộc đang bị các nước lớn “đô hộ”; “bóc lột” với những luận điểm cụ thể đã khẳng định: “(1) Chế độ dân chủ tư sản, do bản chất của nó,…tuyên bố quyền bình đẳng hình thức. Ý nghĩa thật sự …chỉ là đòi thủ tiêu giai cấp. (2) Để cách mạng giành thắng lợi cần phải có Đảng cộng sản tiên phong, Đảng phải “đánh giá đúng tình hình lịch sử cụ thể, và trước hết, là tình hình kinh tế”; (3)…hòa ước Véc-xai khét tiếng và hòa ước Brê-xtơ - Li-tốp-xơ khét tiếng, là một hành vi bạo lực .. tàn ác và đê tiện. (4) Phải làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản. (5) Trong đời sống chính trị thế giới … phải quy tụ vào một điểm trung tâm; (6) Cần phải thi hành một chính sách thực hiện sự liên minh chặt chẽ nhất của tất cả các phong trào giải phóng dân tộc và thuộc địa. (7) Liên bang là hình thức quá độ tiến tới thống nhất hoàn toàn những người lao động thuộc các dân tộc khác nhau. (8) Bảo toàn được sự tồn tại của các cộng hòa xô-viết trong vòng vây của các nước đế quốc hùng mạnh trên toàn thế giới. (9)Trong toàn bộ công tác tuyên truyền và cổ động của các đảng cộng sản … phải luôn luôn không ngớt tố cáo … các quốc gia tư bản chủ nghĩa”. (10) Phải đấu tranh chống những sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn tiểu tư sản. (11) Đối với các quốc gia và các dân tộc chậm tiến hơn, … phải chú ý: (một), có sự giúp đỡ của tất cả các đảng cộng sản đối với phong trào giải phóng dân chủ tư bản của những nước ấy; (hai), đấu tranh chống giới tu hành cùng những phần tử phản động và trung cổ khác đang còn có ảnh hưởng trong các nước chậm tiến; (ba), chống những xu hướng mưu toan liên hợp phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc châu Âu; (bốn), ủng hộ phong trào nông dân ở các nước chậm tiến, …phải ra sức làm cho phong trào nông dân có được tính chất cách mạng nhất. (năm,) kiên quyết chống xu hướng tô màu sắc cộng sản cho những phong trào giải phóng dân chủ tư sản ở các nước chậm tiến; (sáu), không ngớt giải thích và tố cáo trước đông đảo quần chúng lao động tất cả các nước, nhất là ở các nước chậm tiến, sự lừa bịp một cách có hệ thống của các nước đế quốc lớn mạnh… đối với các dân tộc phụ thuộc và nhỏ yếu, quyết không có một con đường cứu vãn nào khác ngoài con đường liên minh các cộng hòa xô-viết. (12) Nhiệm vụ của giai cấp vô sản cộng sản tự giác ở tất cả các nước là phải tỏ ra đặc biệt thận trọng và đặc biệt chú ý đối với những tàn dư của tình cảm dân tộc của các nước và các dân tộc bị áp bức lâu đời,….”.
Với mười hai luận điểm được Lênin nêu trong Luận Cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, là những “tia sáng” chiếu tới những vấn đề thực tại của các nước thuộc địa, phụ thuộc trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ. Luận Cương đã làm rõ những cách thức, bước đi, phương pháp cách mạng cho các nước đang đấu tranh chống lại “trò bịp bợm” của các nước tư bản đế quốc, không còn con đường nào khác ngoài con đường thành lập tổ chức Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng.
3. Ánh sáng của Luận cương và quá trình vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cách mạng Việt Nam
Từ Luận cương V.I.Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những bước chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động về mục tiêu, con đường giải phóng của dân tộc và dẫn dắt thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu cột mốc Người chuyển từ chủ nghĩa yêu nước thuần túy sang chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa cộng sản, biến một “người đi tìm đường” thành “người dẫn đường” vĩ đại.
Giá trị thực tiễn của quá trình vận dụng ánh sáng luận cương của Lênnin được thể hiện trong việc Người không rập khuôn máy móc mà đã “dân tộc hóa” chủ nghĩa Mác-Lênin. Người đã khéo léo truyền bá lý luận vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, chuẩn bị chu đáo về chính trị, tư tưởng và tổ chức thông qua các tác phẩm kinh điển như “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách mệnh”...
Đặc biệt, việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 02/1930) chính là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước chân chính. Từ bản Luận cương và bằng hoạt động thực tiễn của mình, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã đúc rút những vũ khí sắc bén về con đường cứu nước với “cẩm nang kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn” trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những nội dung cốt lõi: (1) Đối với việc xác định một cách khái quát mục tiêu và con đường của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(9). (2) Đối với cơ sở lý luận chính trị của Đảng Cộng sản và cách mạng Việt Nam, Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. “...Tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản”(10). (3) Đối với việc xác định lực lượng lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”(11). (4) Đối với lực lượng cách mạng cần tập hợp, Người cho rằng bao gồm tất cả những người Việt Nam yêu nước, nêu ra 5 lực lượng: Giai cấp công nhân: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình (tức là giai cấp công nhân), phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”(12). Giai cấp nông dân: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”(13); “Đảng phải lôi kéo tiểu tư sản, trí thức... về phía giai cấp vô sản” (14). “…tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản c.m (cách mạng) thì phải lợi dụng... lôi kéo... tư sản hoặc tư bản bậc trung”(16). 5) Đối với phương pháp cách mạng, Người chủ trương sử dụng phương pháp cách mạng bạo lực để đánh đổ tư bản, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, “đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến”(16). (6) Đối với việc xây dựng xã hội mới: Về phương diện xã hội: “Dân chúng được tự do tổ chức; …”(17). Về phương diện chính trị: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập; …” (18). Về phương diện kinh tế: “Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; …; bỏ sưu thuế cho dân nghèo, ..;…” (19). (7) Đối với quan hệ quốc tế, Người khẳng định: “Phải tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”(20).
Với sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” đã trở thành ngọn đuốc soi sáng đưa dân tộc ta đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975. Những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước sau 40 năm… những giá trị hiện thực đã đạt được đó là kết quả mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng lý luận Mác-Lênin khi được vận dụng sáng tạo sẽ trở thành lực lượng vật chất vô song để kiến tạo vận mệnh mới cho dân tộc.
4. Giá trị trường tồn và ý nghĩa với công cuộc đổi mới rong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Di sản từ hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị thời đại, là “bản trường ca cách mạng” soi đường cho công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh không chỉ là lòng yêu nước chân chính mà còn là sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại, lấy Nhân dân làm gốc.
Trong bối cảnh hiện nay, trước những thách thức của mặt trái cơ chế thị trường, tư tưởng của Người là “liều thuốc” đặc trị đối với sự “tha hóa đạo đức” và ”nhạt phai lý tưởng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Việc kiên định con đường của Người đòi hỏi mỗi chúng ta phải thực hiện tốt việc “tự soi, tự sửa”, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, chống lại chủ nghĩa cá nhân và các âm mưu “diễn biến hòa bình”.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định phấn đấu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao; chúng ta cần tăng cường một số giải pháp để Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu như Người hằng mong muốn:
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam - với vai trò lãnh đạo, cầm quyền xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín.
Thứ hai, toàn Đảng, toàn dân tăng cường nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng việc làm thực chất, hiệu quả, “mắt thấy, tai nghe”, để dân tin, dân yêu, nhằm khơi dậy sức mạnh từ Nhân dân. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “Nhân dân là chủ nước nhà”, Người luôn đặt Nhân dân ở vị trí “tối thượng”. Với Người cách mạng muốn thành công phải dựa vào “dân”,“lấy dân làm gốc”.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo toàn dân phát huy phong trào thi đua yêu nước với tinh thần thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc, bứt phá đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Vì, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”(21). Đó cũng là cách thức thiết thực nhất để chúng ta viết tiếp hành trình lịch sử vẻ vang và khát vọng cháy bỏng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(22).
Thứ tư, noi theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm, sai trái, thù địch. Phải kiên định, bảo vệ giá trị đúng đắn của Đảng với việc nâng cao nhận thức lý luận và lập trường đúng đắn để đấu tranh với những hiện tượng, quan điểm chống lại lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Thứ năm, kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Trong quá trình hội nhập quốc tế cần đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích chung của hoà bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
5. Kết luận
Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, là ánh sáng rọi chiếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là bước khởi đầu cho con đường giải phóng dân tộc, đưa Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Trên hành trình ấy Người và Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi mới thắng lợi để “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới”(23); là điều kiện để chúng ta “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(24).
Th.S Trần Thị Thùy
Khoa Xây dựng Đảng
Tài liệu trích dẫn
(1), (4); (2), (3), (6), (7) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.12, tr.557; tr.562.
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr. 112.
(8) V.I.Lênin, toàn tâp, Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, H.2006, t.41, tr.197-206.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1998, t.2, tr.2.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1998, t.2, tr.7.
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1998, t.2, tr.4,6,7.
(12), (13), (14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1998, t.2, tr.4.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1998, t.2, tr.4, 6.
(17), (18), (19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.3, tr.1.
(16), (20) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia
Sự thật, H.1998, t.2, tr.5.
(21) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 407.
(22) Hồ Chí Minh: Di chúc, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, t 12
(23), (24) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thât, H.2026, tr.44.






