Thứ ba, 18/08/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 - 19/8/2026) VÀ QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 - 02/9/2026)!

Thứ ba, 18 Tháng 8 2026 14:05

SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA “Ý CHÍ”, “KHÁT VỌNG” TỪ HÀO KHÍ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Tóm tắt:  Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Việt Nam, khẳng định được sức mạnh “không khuất phục trước mọi khó khăn”; “không có việc gì là không thể vượt qua”, bằng sức mạnh của “ý chí”, “khát vọng” đã được thấm đẫm vào mỗi người dân đất Việt. Trong bối cảnh và điều kiện mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, đang từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng xây dựng Việt Nam hùng cường, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng sức mạnh nội sinh của “ý chí”, “khát vọng” mới.

Từ khóa: Sức mạnh nội sinh từ “ý chí”, “khát vọng”; hào khí cách mạng tháng tám; kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

MỞ ĐẦU

Quá trình dựng nước, giữ nước là một tiến trình vận động biện chứng, nơi sức mạnh nội sinh đóng vai trò là mạch nguồn xuyên suốt, giúp quốc gia không chỉ tồn tại mà còn trỗi dậy mạnh mẽ sau mỗi phép thử nghiệt ngã của lịch sử. Có thể khẳng định sau khi giành được độc lập cho dân tộc từ năm 1945 đến nay dân tộc ta đã trải qua ba kỷ nguyên, gồm “Kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); Kỷ nguyên thống nhất, đổi mới, phát triển (1975-2025). Giờ đây, khi hào khí quốc gia đã tích lũy đủ “thế và lực”, chúng ta chính thức bước vào kỷ nguyên thứ ba: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(1). Đây là giai đoạn bứt phá mang tính thời đại, hàm ý một sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát để vượt qua những giới hạn cũ, “vượt qua chính mình” và hiện thực hóa khát vọng “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng bào ta. Dòng chảy sức mạnh ấy có gốc rễ sâu xa từ hào khí của Cách mạng Tháng Tám mùa Thu năm 1945- thời điểm mà ý chí tự lực, tự cường lần đầu tiên được kết tinh thành sức mạnh xoay chuyển vận mệnh dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

PHẦN NỘI DUNG

1. Cách mạng Tháng Tám - Sự hội tụ và phát huy cao độ sức mạnh nội sinh

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng cùng với tinh thần yêu nước nồng nàn, tình đoàn kết của cả dân tộc, ý chí quật cường của các tầng lớp Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trải qua 15 năm xây dựng lực lượng và phong trào cách mạng, đấu tranh gian khổ và anh dũng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu giành lại độc lập dân tộc cho dân tộc, tự do cho Nhân dân. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ khi chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đã tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Và hơn hết thảy là Nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, tạo ra sức mạnh vô bờ, quyết giành lại độc lập cho nước nhà. Chính nguồn sức mạnh nội sinh ấy là khởi đầu cho những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta cho đến ngày hôm nay khi đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”.

2. Thành tựu 40 năm Đổi mới - Sự tích lũy thế và lực cho bước nhảy vọt lịch sử của dân tộc

 Giai đoạn 1986-2026 Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta từng bước khảo nghiệm, tự đổi mới tư duy, lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau 40 năm, Việt Nam đã phá thế bao vây, cấm vận, vượt qua nghèo nàn, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và là một mắt xích quan trọng trong nền kinh tế thế giới và chuỗi cung ứng toàn cầu. Những thành tựu của công cuộc đổi mới được thông qua tại Đại hội XIV của Đảng là những minh chứng sống động, đồng thời là nền tảng và tiền đề quan trọng để đất nước phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo:

Về chính trị: trước những khó khăn, thử thách lớn ở trong nước, những biến động bất lợi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Ðảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, kiên định và vận dụng, phát triển, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN(2). Đặc biệt, cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá, đã giảm 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương; giảm 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh, 66,9% đơn vị hành chính cấp xã; lần đầu tiên kể từ năm 1945, nước ta giảm một cấp hành chính (không tổ chức cấp huyện), thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp(3). Thành tựu trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt, “không có ngoại lệ”, “không có vùng cấm”, “không ngừng nghỉ” đã củng cố thêm niềm tin yêu của Nhân dân vào Đảng và chế độ, trở thành nền tảng đặc biệt vững chắc trên con đường đổi mới, đi lên CNXH.

Về kinh tế: vượt qua giai đoạn khủng hoảng, lạm phát phi mã trong giai đoạn đầu đổi mới, đến đầu những năm 90 kinh tế đất nước đã có những bước tăng trưởng ấn tượng và duy trì liên tục trong thời gian dài dù khu vực và thế giới đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế như Khủng hoảng kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương 1997-1998, Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, đặc biệt là suy thoái kép do ảnh hưởng của dịch covid 19 và cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung Quốc từ 2020 đến nay. Riêng giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 trở đi. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao; đặc biệt thương mại quốc tế đạt 930,07 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nước xuất nhập khẩu hàng đầu thế giới. Chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%(4).

Về văn hóa - xã hội: “Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021(5). Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025…Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, đạt trên 3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi. Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khoẻ người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm(6).

Về đối ngoại: với chủ trương Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, “đa dạng hoá”, “đa phương hoá” quan hệ đối ngoại, Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia…Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài(7).

Về quốc phòng - an ninh: thành tựu bao trùm là đã “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp CNH, HĐH, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(8). Trong một thế giới đầy biến động, bảo vệ Tổ quốc phải đi trước một bước để giữ vững môi trường hòa bình trong kỷ nguyên mới, đặc biệt chú trọng đến nghệ thuật tác chiến trong môi trường công nghệ cao và bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng. Lực lượng vũ trang đã và đang ngày càng thực sự tinh, gọn, mạnh, hiện đại, là “thanh bảo kiếm” và “lá chắn” của chế độ. Đảng ta đã rất quan tâm và nâng tầm “Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc; kết hợp thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân được triển khai một cách đồng bộ và có bước phát triển mới”(9). Sự đồng thuận giữa ý Đảng và lòng dân chính là bức tường thành kiên cố nhất để thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”(10) và ngoại giao linh hoạt, bảo đảm đất nước “trong ấm, ngoài êm”, tạo không gian tối ưu cho phát triển kinh tế.

Bên cạnh những thành tựu, Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận những rào cản đang kìm hãm sự vận động biện chứng của lực lượng sản xuất, trong đó nổi bật nhất một số vấn đề: tăng trưởng kinh tế vẫn dưới mức tiềm năng, chưa đạt mục tiêu đề ra. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; những vấn đề về văn hóa - xã hội từ quản lý phát triển xã hội đến giáo dục và thực hiện các cam kết còn nhiều bất cập. Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước …chưa bắt kịp với  yêu cầu phát triển đột phá của đất nước. Vai trò lãnh đạo của một số cấp uỷ đảng còn hạn chế.  Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn nhiều lúng túng, chất lượng chưa cao. Quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hoá đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm. Hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Một bộ phận cán bộ chưa thực sự ngang tầm với nhiệm vụ. Năng lực dự báo tình hình, tư duy và tầm nhìn chiến lược còn hạn chế; “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm” chưa được khắc phục triệt để; chưa phát huy hiệu quả vai trò “giám sát” của Nhân dân…(11)

3. Phát huy bài học sức mạnh nội sinh của “ý chí”, “khát vọng” từ Cách mạng Tháng Tám trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện nay

Đại hội XIV của Đảng là điểm khởi đầu cho kỷ nguyên thứ ba: Kỷ nguyên bứt phá để sánh vai với các cường quốc năm châu;Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; củng cố niềm tin, phát huy sức sáng tạo, ý chí và khát vọng phát triển của toàn dân tộc tạo động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới; …Phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của Nhân dân được nâng cao và hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.

Để hiện thực hóa tầm nhìn vươn mình, chúng ta cần những đột phá mang tính cách mạng nhằm khơi thông, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước; đặc biệt tạo điều kiện để “ý chí”, “khát vọng” của Nhân dân được hiện thực hóa bằng hành động tạo ra giá trị đóng góp cho đất nước phát triển, trong đó cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản:

Thứ nhất, Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, bảo đảm Đảng là người cầm lái vĩ đại nhưng dứt khoát không bao biện, làm thay công việc của Nhà nước. Nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng trên mọi lĩnh vực. Trong đó chú trọng đổi mới công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Bảo đảm hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Thứ hai, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể chế nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Tập trung tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” về thể chế; chuyển tư duy từ quản lý mang tính hành chính sang kiến tạo phát triển, khuyến khích sự đổi mới sáng tạo.  Đẩy mạnh Cách mạng chuyển đổi số, xác lập “phương thức sản xuất số”. Triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” để phổ cập kỹ năng số cho toàn dân, coi dữ liệu là tư liệu sản xuất cốt lõi. Cùng với đó nâng tầm công tác chống lãng phí ngang hàng với chống tham nhũng. Phải biến tiết kiệm thành văn hóa tự giác của mỗi người dân, nhất là với cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, trên cơ sở của thiết lập cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân thường xuyên phản ánh, giám sát, đánh giá chất lượng phục vụ của chính quyền các cấp, nhất là cấp xã. Ý kiến của người dân, doanh nghiệp phải trở thành một kênh dữ liệu quan trọng trong đánh giá hiệu quả vận hành của bộ máy mới. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong tham gia xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, phục vụ; củng cố đồng thuận xã hội, niềm tin của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc(12).

KẾT LUẬN

Việt Nam đang đứng trước cánh cửa của vận hội mới với tâm thế tự tin được hun đúc từ “ý chí” và “khát vọng” của ngàn năm văn hiến, lịch sử và anh hùng, đặc biệt là Cách mạng Tháng Tám 1945. Sự hòa quyện giữa  “ý Đảng - lòng Dân”  là nguồn lực nội sinh vô tận để chúng ta thực hiện bước nhảy vọt lịch sử vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tinh thần tự lực, tự cường, nhất định Đảng ta sẽ lãnh đạo Nhân dân ta hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, nâng cao đời sống của Nhân dân và hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, phấn đấu vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.

ThS. Trần Thị Thùy, ThS. Nguyễn Văn Hùng - Khoa Xây dựng Đảng


Tài liệu nghiên cứu

(1)https://special.nhandan.vn/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan toc/index.html

(2);(7);(8) (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, 2026, tr 51-52; tr.143-144; tr.29; tr.136.

(3); (4); (5),(6); (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, 2026, tr 61-62; tr.47; tr.51; 64.

(10) Quang Chuyên - Mạnh Hà: Quan điểm “bốn không” của Đảng - thông điệp hòa bình, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 16/6/2022.

(12) Ban chấp hành Trung ương: Kết luận Số 76-KL/TW, ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả, mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001839200
Đang truy cập : 14