NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Tóm tắt: Phong trào xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển từ những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các lực lượng tiến bộ vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lợi dụng những khó khăn, thăng trầm của phong trào để xuyên tạc, phủ nhận sức sống và triển vọng của chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở nhận diện những luận điệu chủ yếu, bài viết phân tích các luận cứ lý luận và thực tiễn nhằm bác bỏ những quan điểm sai trái, đồng thời khẳng định cơ sở khách quan, sức sống và triển vọng phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: Phong trào xã hội chủ nghĩa; triển vọng phát triển; đấu tranh phản bác.
1. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc về triển vọng phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay
Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Lợi dụng thực tế đó, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không ngừng xuyên tạc, tuyệt đối hóa những hạn chế của phong trào để phủ nhận cơ sở tồn tại, sức sống và triển vọng phát triển của chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, các luận điệu này tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, xuyên tạc sự biến đổi của giai cấp công nhân để phủ nhận cơ sở xã hội của phong trào xã hội chủ nghĩa.
Dựa vào sự giảm tương đối của một bộ phận công nhân công nghiệp truyền thống dưới tác động của khoa học – công nghệ, tự động hóa và kinh tế số, các thế lực thù địch suy diễn rằng giai cấp công nhân đang dần “biến mất”. Từ đó, họ cho rằng phong trào xã hội chủ nghĩa mất đi lực lượng xã hội cơ bản, tất yếu suy yếu và tiêu vong. Bản chất của luận điệu này là đồng nhất sự biến đổi về cơ cấu, trình độ và phương thức lao động của giai cấp công nhân với sự mất đi địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp này.
Thứ hai, thổi phồng khả năng tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản để phủ nhận triển vọng phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa.
Các quan điểm sai trái tuyệt đối hóa những thành tựu về khoa học – công nghệ, chính sách phúc lợi và khả năng điều tiết của nhà nước tư sản để cho rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã khắc phục được những mâu thuẫn vốn có. Từ đó, họ đi đến kết luận rằng điều kiện kinh tế – xã hội làm nảy sinh phong trào xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại và phong trào tất yếu suy giảm nhằm phủ nhận cơ sở khách quan của phong trào xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, đối lập lợi ích quốc gia – dân tộc với mục tiêu chung của phong trào xã hội chủ nghĩa.
Từ thực tế lợi ích quốc gia – dân tộc ngày càng được coi trọng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và những biến động phức tạp của quan hệ quốc tế, các thế lực thù địch cho rằng các nước xã hội chủ nghĩa chỉ theo đuổi lợi ích riêng, không còn có khả năng duy trì sự đoàn kết và hợp tác vì những mục tiêu chung. Thực chất, đây là sự tuyệt đối hóa những khác biệt về lợi ích, cố tình phủ nhận khả năng tìm kiếm điểm tương đồng và giải quyết hài hòa lợi ích giữa các quốc gia, các lực lượng xã hội chủ nghĩa và tiến bộ.
Thứ tư, tuyệt đối hóa số lượng các nước xã hội chủ nghĩa để phủ nhận sức ảnh hưởng và triển vọng của phong trào xã hội chủ nghĩa.
Các thế lực thù địch lấy sự thu hẹp về số lượng các nước xã hội chủ nghĩa so với thời kỳ tồn tại hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới làm căn cứ để quy kết phong trào đang suy tàn, không còn khả năng mở rộng ảnh hưởng và không có triển vọng phát triển. Đây là cách đánh giá giản đơn, lấy một trạng thái lịch sử cụ thể để phủ nhận toàn bộ quá trình vận động của phong trào, đồng thời tuyệt đối hóa yếu tố số lượng mà bỏ qua cơ sở xã hội, lực lượng, hình thức hoạt động và khả năng thích ứng của phong trào trong điều kiện mới.
2. Cơ sở khoa học và thực tiễn để phản bác các luận điệu xuyên tạc về triển vọng phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa
Thứ nhất, sự biến đổi của giai cấp công nhân không làm mất đi cơ sở xã hội của phong trào xã hội chủ nghĩa
Sự phát triển của khoa học – công nghệ, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang làm biến đổi sâu sắc cơ cấu nghề nghiệp, trình độ và phương thức lao động của giai cấp công nhân. Một bộ phận công nhân công nghiệp truyền thống giảm tương đối, nhưng đồng thời xuất hiện và phát triển những bộ phận lao động mới trong các lĩnh vực công nghệ, sản xuất tự động, logistics, dịch vụ hiện đại và kinh tế số. Vì vậy, sự thay đổi về cơ cấu và hình thức lao động không đồng nghĩa với sự mất đi của giai cấp công nhân.
Quan trọng hơn, địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân không được xác định đơn thuần bằng nghề nghiệp hay số lượng, mà trước hết bởi vị trí của họ trong quan hệ sản xuất. Khoa học – công nghệ làm thay đổi phương thức lao động nhưng không làm mất đi quan hệ lợi ích giữa người lao động với chủ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu. Đây là điều kiện khách quan làm nảy sinh nhu cầu liên kết và bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động.
Đồng thời, cơ sở xã hội của phong trào xã hội chủ nghĩa ngày nay không chỉ giới hạn ở công nhân công nghiệp truyền thống mà ngày càng đa dạng, bao gồm nhân dân lao động, trí thức tiến bộ và các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, công bằng, tiến bộ xã hội. Do đó, lấy sự biến đổi của giai cấp công nhân để phủ nhận cơ sở xã hội của phong trào là cách nhìn phiến diện, không phản ánh đúng sự vận động của cơ cấu giai cấp – xã hội trong điều kiện hiện nay.
Thứ hai, khả năng điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản không làm mất đi cơ sở khách quan của phong trào xã hội chủ nghĩa
Không thể phủ nhận chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những điều chỉnh về quan hệ sản xuất, phân phối, chính sách phúc lợi và quản lý nhà nước; đồng thời khai thác mạnh mẽ thành tựu khoa học – công nghệ để phát triển lực lượng sản xuất. Những điều chỉnh đó có thể cải thiện điều kiện sống của một bộ phận người lao động và làm giảm mức độ gay gắt của một số mâu thuẫn trong những thời kỳ nhất định. Tuy nhiên, khả năng điều chỉnh không đồng nghĩa với việc những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã được giải quyết về căn bản, thậm chí có những mặt còn sâu sắc, gay gắt hơn.
Thực tiễn cho thấy, cùng với sự gia tăng của cải xã hội vẫn tồn tại tình trạng phân hóa giàu nghèo, tập trung tài sản, bất bình đẳng trong phân phối và những vấn đề về việc làm, thu nhập, an sinh của người lao động. Hiện nay tỷ phú tập trung hầu hết ở các nước phát triển; các nước G20 là nơi chiếm gần 80% số lượng tỷ phú toàn cầu. Theo công bố của Tổ chức Oxfam ngày 25/7/2024, tài sản của 1% dân số giàu nhất thế giới đã tăng tổng cộng 42.000 tỷ USD trong thập niên qua; số tăng này cao hơn gần 36 lần so với tài sản mà 50% dân số nghèo trên thế giới tích lũy được. Tài sản ròng của nhóm 1% giàu nhất tăng bình quân gần 400.000 USD/người, trong khi mức tăng của nhóm 50% nghèo nhất là 335 USD/người [1]. Sự chênh lệch này cho thấy kết quả của tăng trưởng chưa được phân phối tương xứng giữa các nhóm xã hội, trong khi mức độ tập trung tài sản tiếp tục gia tăng. Ngoài ra, những vấn đề xã hội cũng biểu hiện rõ ngay tại các nước tư bản phát triển. Tại Mỹ, theo báo cáo của Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị Mỹ (HUD) công bố ngày 27/12/2024, 771.480 người được xác định trong tình trạng vô gia cư, tăng 18% so với năm 2023 và là mức cao nhất được ghi nhận [2]. Thực tế đó cho thấy, mặc dù chủ nghĩa tư bản hiện đại đã xây dựng nhiều cơ chế điều tiết và chính sách phúc lợi nhưng vấn đề về phân phối, nhà ở, việc làm, thu nhập và bảo đảm đời sống của một bộ phận dân cư vẫn chưa được giải quyết triệt để. Do đó, lấy khả năng tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản để phủ nhận những mâu thuẫn kinh tế – xã hội và từ đó phủ nhận cơ sở tồn tại của phong trào xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch là một sự suy diễn thiếu căn cứ khoa học và phi thực tiễn.
Thứ ba, giải quyết hài hòa lợi ích quốc gia – dân tộc góp phần củng cố và phát triển phong trào xã hội chủ nghĩa
Lợi ích quốc gia – dân tộc là lợi ích cơ bản, lâu dài, có vai trò định hướng hoạt động đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia. Do đó, việc các quốc gia, trong đó có các nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc là yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, đề cao lợi ích quốc gia – dân tộc không đồng nghĩa với tuyệt đối hóa lợi ích riêng hoặc đối lập lợi ích của quốc gia mình với những lợi ích chung. Lợi ích quốc gia – dân tộc chân chính và những mục tiêu tiến bộ mà phong trào xã hội chủ nghĩa hướng tới có nhiều điểm tương đồng. Độc lập, chủ quyền, quyền phát triển, hòa bình và nâng cao đời sống Nhân dân vừa là những lợi ích căn bản của mỗi quốc gia, vừa phù hợp với các giá trị hòa bình, bình đẳng, công bằng và tiến bộ xã hội. Trong điều kiện toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc, nhiều vấn đề vượt khỏi khả năng giải quyết riêng lẻ của từng quốc gia, làm gia tăng yêu cầu hợp tác và phối hợp hành động. Do đó, sự khác biệt về lợi ích không tất yếu dẫn đến phân hóa và đối lập. Giải quyết hài hòa lợi ích, mở rộng những điểm tương đồng và tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi quốc gia có thể tạo điều kiện tăng cường hợp tác, liên kết và tập hợp lực lượng.
Thực tiễn 40 năm đổi mới của Việt Nam là minh chứng rõ nét cho thấy khả năng kết hợp giữa bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc với hội nhập quốc tế. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam vừa giữ vững độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình, ổn định vừa mở rộng quan hệ đối ngoại. Đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ. Quá trình hội nhập quốc tế đã tạo thêm điều kiện thuận lợi và nguồn lực cho đất nước phát triển. Năm 2025, quy mô GDP đạt 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đời sống Nhân dân được cải thiện... Những kết quả đó chính là minh chứng bác bỏ luận điệu tuyệt đối hóa sự khác biệt về lợi ích quốc gia – dân tộc để phủ nhận khả năng hợp tác, đoàn kết và tập hợp lực lượng của phong trào xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, sự vận động đa dạng của phong trào xã hội chủ nghĩa khẳng định sức sống và triển vọng phát triển trong bối cảnh mới
Lấy số lượng các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay để quy kết phong trào xã hội chủ nghĩa đang suy tàn là cách đánh giá phiến diện, tuyệt đối hóa yếu tố số lượng và thiếu quan điểm lịch sử – cụ thể. Thực tiễn sau những biến động ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, sự thu hẹp về số lượng các nước xã hội chủ nghĩa không đồng nghĩa với sự chấm dứt của phong trào. Phong trào tiếp tục tồn tại thông qua hoạt động của các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cánh tả, tiến bộ và những hình thức liên kết, hợp tác quốc tế. Điều đó cho thấy phong trào đang vận động và thích ứng dưới những hình thức phù hợp hơn với điều kiện lịch sử mới.
Quan trọng hơn, triển vọng của phong trào phải được xem xét từ những điều kiện khách quan chi phối sự tồn tại và vận động của nó. Khi những vấn đề về bất bình đẳng xã hội, quyền và lợi ích của người lao động, hòa bình, công bằng và tiến bộ xã hội vẫn đặt ra, thì những nhu cầu xã hội gắn với các mục tiêu mà phong trào hướng tới vẫn còn cơ sở khách quan. Bởi vậy, lấy số lượng các nước xã hội chủ nghĩa tại một thời điểm để phủ nhận triển vọng của cả phong trào là lấy một trạng thái để phủ nhận một quá trình vận động, lấy số lượng thay cho bản chất và tuyệt đối hóa một tiêu chí để đưa ra kết luận về toàn bộ phong trào là cách đánh giá phiến diện, thiếu căn cứ khoa học.
Thứ năm, thành tựu đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa là cơ sở thực tiễn khẳng định triển vọng phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa
Thực tiễn phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa là căn cứ quan trọng bác bỏ việc đồng nhất sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu với sự thất bại của chủ nghĩa xã hội nói chung. Những biến động cuối thế kỷ XX phản ánh khủng hoảng và thất bại của một mô hình cụ thể trong những điều kiện lịch sử nhất định, không đủ căn cứ để phủ nhận khả năng phát triển của chủ nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện mô hình phát triển trên cơ sở vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia và yêu cầu của thời đại.
Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam và cải cách, mở cửa ở Trung Quốc đã tạo ra những chuyển biến quan trọng về kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống Nhân dân, giảm nghèo và mở rộng hội nhập quốc tế. Những kết quả đó không có nghĩa mọi khó khăn, hạn chế đã được giải quyết, nhưng cho thấy các nước xã hội chủ nghĩa có khả năng đổi mới mô hình và phương thức phát triển phù hợp với những biến đổi của thực tiễn mà vẫn duy trì mục tiêu, định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, lấy sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa để tuyên bố chủ nghĩa xã hội đã “cáo chung” là lấy thất bại của một mô hình cụ thể để phủ nhận cả một con đường phát triển, lấy một giai đoạn lịch sử để kết luận về toàn bộ tiến trình. Khả năng đổi mới và những thành tựu phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay là cơ sở thực tiễn quan trọng bác bỏ luận điệu phủ nhận sức sống, đồng thời góp phần khẳng định triển vọng của phong trào xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.
3. Kết luận
Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng những khó khăn, hạn chế của phong trào xã hội chủ nghĩa để xuyên tạc, phủ nhận cơ sở tồn tại, sức sống và triển vọng của chủ nghĩa xã hội, qua đó tác động đến nhận thức và niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, những luận điệu đó dựa trên cách tiếp cận phiến diện, tuyệt đối hóa từng hiện tượng riêng lẻ và không phản ánh đầy đủ sự vận động của thực tiễn. Vì vậy, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc cần được đặt trên nền tảng lý luận khoa học, bằng chứng thực tiễn xác thực và khả năng nhận diện đúng những vấn đề mới của thời đại. Đây không chỉ là yêu cầu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn góp phần củng cố cơ sở khoa học và thực tiễn của niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới.
ThS. Hoàng Thị Thắm
Khoa Lý luận cơ sở
Tài liệu tham khảo
[2] https://baohatinh.vn/nguoi-vo-gia-cu-o-my-tang-ky-luc-post280075.html






