Super User
CẬP NHẬT VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV VÀO GIẢNG DẠY BÀI 2 MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG - CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Tóm tắt: Trong hoạt động giảng dạy lý luận chính trị, việc cập nhật kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các thông tin thực tiễn mới vào bài giảng là việc làm thường xuyên, cần thiết đối với mỗi giảng viên, nhằm đảm bảo tính thời sự và gắn kết lý luận với thực tiễn trong mỗi bài giảng. Với ý nghĩa như thế, việc cập nhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào giảng dạy bài 2 “Những thành tựu chủ yếu của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay” là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là cách hiệu quả để tuyên truyền kịp thời những thành tựu to lớn trong 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước sâu rộng đến đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Từ khóa: Văn kiện Đại hội XIV, cập nhật nghị quyết, thành tựu cách mạng Việt Nam.
Đại hội XIV của Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử; công cuộc đổi mới đất nước đã trải qua 40 năm, đạt được nhiều thành tựu hết sức to lớn, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước ta. Với ý nghĩa đó, Đại hội đã thông qua “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam”. Báo cáo đã đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, bao trùm cả về phương diện lý luận và thực tiễn trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, con người, an ninh - quốc phòng, công tác xây dựng Đảng và Hệ thống chính trị. Báo cáo nhấn mạnh: “lý luận về đường lối đổi mới đã xác định ngày càng rõ mục tiêu, đặc trưng, phương hướng, các mối quan hệ lớn và các trụ cột chính của chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã và đang soi đường cho hoạt động thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chính thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội 40 năm qua đã đặt ra không ít vấn đề cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cần tiếp tục giải quyết”[1]. Trên cơ sở đánh giá những mặt đạt được và tồn tại, hạn chế; dự báo thời cơ và thách thức đặt ra, Báo cáo định hướng một số giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Do đó, khi cập nhật vào giảng dạy bài 2 “Những thành tựu chủ yếu của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay” môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, giảng viên cần lựa chọn và cập nhật đầy đủ cả về thành tựu lý luận và thực tiễn vào MỤC 5 của bài.
Ở phần thành tựu lý luận, giảng viên cần cập nhật toàn diện nội dung thành tựu lý luận trên các vấn đề: Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về văn hóa, xã hội và con người; về quốc phòng, an ninh và đối ngoại; về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cụ thể:
Thứ nhất, ở nội dung “xác lập những luận điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Ngoài những nội dung đã được đề cập trong giáo trình, giảng viên cần cập nhật nội dung được Đảng ta đánh giá trong Báo cáo tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đó là: “Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam gồm mục tiêu, các đặc trưng và trụ cột của chủ nghĩa xã hội đã ngày càng được hoàn thiện, cụ thể hóa”[2]; “nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn, thể hiện trong những phương hướng cơ bản, những mối quan hệ lớn và lộ trình đi lên chủ nghĩa xã hội”[3]. Đồng thời, trong quá trình truyền đạt, giảng viên cần phân tích, làm rõ những nội dung điều chỉnh thể hiện nhận thức mới của Đảng về nội hàm của từng đặc trưng và mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, cũng như những điều chỉnh về các mối quan hệ lớn.
Thứ hai, giảng viên cần cập nhật và phân tích, làm rõ các nội dung về sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng về các lĩnh vực cụ thể về kinh tế, văn hóa - xã hội, con người, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là sự đột phá, đổi mới tư duy trong công tác lãnh đạo của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy, mở ra không gian mới và tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của đất nước.
Bên cạnh đó, khi giảng xong nội dung thành tựu lý luận, giảng viên cần nhấn mạnh, những thành tựu đó đã thể hiện “khái quát rõ hơn sự phát triển sáng tạo lý luận về đường lối đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, góp phần bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”[4] để thể hiện được ý nghĩa, giá trị to lớn của công cuộc đổi mới, đồng thời chứng minh sự sáng tạo, bản lĩnh chính trị của Đảng ta trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước 40 năm qua.
Về thành tựu thực tiễn, giảng viên cần cập nhật đánh giá tổng quát “công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng 40 năm qua đã làm thay đổi căn bản, toàn diện cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước”[5]. Đồng thời phân tích chứng minh, làm rõ nội hàm những từ “căn bản, toàn diện”, “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” trước khi đi vào từng lĩnh vực cụ thể. Trong từng lĩnh vực, khi cập nhật cần bám sát những đánh giá về những kết quả đạt được trong Văn kiện Đại hội XIV trong từng lĩnh vực, đồng thời chứng minh bằng hình ảnh, biểu đồ, các số liệu mới nhất. Bên cạnh đó, cho học viên thảo luận, liên hệ về thực tiễn phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương, cũng như hiệu quả bước đầu trong hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, làm tăng tính hấp dẫn, sinh động cho bài giảng.
Như vậy, việc cập nhật Văn kiện Đại hội XIV vào giảng bài Những thành tựu chủ yếu của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, giảng viên cần lựa chọn những nội dung trọng tâm, nổi bật, những điểm mới về thành tựu lý luận và thực tiễn trong báo cáo Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới để đảm bảo tính thời sự. Từ những kết quả đạt được đó, có thể làm nội dung để học viên thảo luận, làm rõ, đồng thời giúp học viên có cái nhìn toàn diện, cung cấp những luận cứ để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trong 40 năm qua./.
ThS Nguyễn Thị Thu Hiền
Khoa Xây dựng Đảng
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tập 2, trang 288-289
[2] Sđd, trang 198.
[3] Sđd, trang 200.
[4] Sđd, trang 288
[5] Sđd, trang 205
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
Tóm tắt: Bài viết nhấn mạnh vai trò và tính cấp thiết của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, phân tích những quan điểm đột phá mang tính chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thấy được sự quyết tâm của Đảng ta khi lấy con người làm trung tâm, là động lực then chốt để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khóa: Văn kiện Đại hội XIV, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đặt vấn đề: Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yêu cầu cấp thiết.
Nội dung
Khi đề cập đến nguồn nhân lực, đã có nhiều quan điểm khác nhau. Có thể hiểu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là phát triển toàn diện con người, bao gồm: thể lực, trí lực, và tâm lực như nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, cải thiện thể chất, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc, thành thạo kỹ năng quản trị công hiện đại, sử dụng tốt công nghệ số... để đạt được các mục tiêu chung.
1. Vai trò và tính cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh hiện nay
Karl Marx cho rằng: “con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội; con người là điểm khởi đầu và là điểm kết thúc của mọi quá trình biến đổi lịch sử; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng lao động; con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”[1]. Kế thừa và phát triển quan điểm của Karl Marx, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển đất nước. Người khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa” hay “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người chỉ rõ vai trò của yếu tố trí tuệ, coi nó là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực khi nói rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[2].
Thấm nhuần quan điểm của Marx và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, từ Đại hội VI (1986) đến nay, Đảng ta luôn coi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự thành, bại của cách mạng. Tuy nhiên, trong thực tiễn, mặc dù dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, nhưng chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay vẫn chưa có những chuyển biến rõ nét: vẫn thiếu nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao, kinh tế số…; công tác đào tạo chưa gắn kết chặt chẽ, thường xuyên; chất lượng giáo dục ở các cấp học vẫn còn hạn chế, mới đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước ở trình độ trung bình, theo chiều rộng, chưa đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao; nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao còn thiếu; nội dung xây dựng con người còn phiến diện, chỉ tập trung vào đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chưa chú ý giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vấn đề chấn hưng đạo đức xã hội có nơi, có lúc mới chỉ nhấn mạnh đến chống các tiêu cực và tệ nạn xã hội, chưa chú trọng kế thừa và phát huy các giá trị tích cực và tốt đẹp của văn hoá truyền thống và xây dựng các giá trị văn hoá, đạo đức mới.
Trong khi đó, trên phạm vi toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm thay đổi dần phương thức sản xuất truyền thống và cơ cấu thị trường lao động. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, trong đó lợi thế cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực.
Trước bối cảnh trên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã trở thành điều kiện tiên quyết đối với sự phát triển đất nước. Nhận thức rõ điều này, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định đây là một trong ba đột phá chiến lược, cùng với hoàn thiện thể chế và phát triển kết cấu hạ tầng, đồng thời đề ra hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
2. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV
Thứ nhất, nguồn nhân lực phải được phát triển toàn diện. Điều này được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIV: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, năng lực sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, gắn với gìn giữ, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”[3]. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ giỏi chuyên môn mà còn phải đúng chuẩn giá trị, có bản lĩnh chính trị, có tinh thần dân tộc và trách nhiệm xã hội, gìn giữ và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa. Văn kiện còn chỉ rõ khi phát triển nguồn nhân lực toàn diện, cần “chú ý khắc phục những mặt hạn chế, bất cập của con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đồng thời với các điều kiện vật chất và tinh thần để xây dựng và phát triển con người toàn diện”[4]. Đồng thời phát triển nguồn nhân lực toàn diện phải “gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[5].
Thứ hai, để phát triển toàn diện nguồn nhân lực, đòi hỏi phải đổi mới giáo dục và đào tạo. Trong đó “đổi mới đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế”[6]. Nghĩa là cập nhật liên tục chương trình đào tạo để bắt kịp công nghệ mới, xu hướng toàn cầu; chuyển từ nền giáo dục nặng về hàn lâm sang giáo dục phát triển năng lực, cần tăng cường kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, chú trọng phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo. Điều này cho thấy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở việc gia tăng bằng cấp hay số lượng các khóa bồi dưỡng, mà chuyển mạnh sang tiếp cận theo năng lực, theo vị trí việc làm, gắn chặt quá trình đào tạo, bồi dưỡng với đánh giá. Nói cách khác, nếu trước đây giáo dục chủ yếu tập trung vào việc người học “biết gì”, thì hiện nay trọng tâm phải chuyển sang việc người học “làm được gì” từ những kiến thức đã học.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khoa học, công nghệ. Văn kiện chỉ rõ: “tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số nhằm phát huy cao độ những giá trị văn hoá, sức mạnh và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam”. Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ như hiện nay, nguồn nhân lực không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải thành thạo công nghệ, có khả năng làm việc trong môi trường số hóa thì mới tăng năng suất lao động và hiệu quả công việc.
Thứ tư, phải “có cơ chế, chính sách hiệu quả đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài”[7]. Các văn kiện trước đây đã đề cập đến vấn đề thu hút, trọng dụng nhân tài nhưng hiệu quả chưa cao, môi trường làm việc chưa thực sự tạo điều kiện để phát huy năng lực sáng tạo, thì Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh phải “nghiên cứu, ban hành và thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài”[8], đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và những ngành có ý nghĩa chiến lược.
Thứ năm, ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các vùng, miền nơi thiếu hụt nhân lực chất lượng cao nhưng lại dư thừa lao động giản đơn. Cần thực hiện phân bổ nguồn nhân lực theo cơ cấu ngành nghề một cách khoa học: ưu tiên phát triển nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng xanh và kinh tế số tại các vùng động lực, vùng trọng điểm. Không để khu vực công “ôm” hết nhân lực chất lượng cao, mà cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đào tạo và sử dụng nhân lực; tạo sân chơi công bằng về đãi ngộ, sử dụng tài năng giữa hai khu vực.
Kết luận: Tóm lại, quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của kỷ nguyên đổi mới và hội nhập. Đảng không chỉ khẳng định con người giữ vị trí trung tâm mà còn nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, như “đòn bẩy” thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
ThS Trần Ngọc Bảo Vy
Tài liệu tham khảo
1. C.Mác - Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 2
2. Phạm Minh Hạc (2012), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNHHĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, 2026 tập 1,2.
4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ yêu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
[1] C.Mác - Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 2
[2] Tống Thị Hạnh (2018), Luận án tiến sĩ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các trường đại học việt nam trong hội nhập quốc tế”, tr47.
[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tr.270, tập 2.
[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tr.56, tập 2.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tr.55, tập 2.
[6] Tr61
[7] Tr270
[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Tr.268.







