Super User
Thực hiện chuẩn mực văn hóa Trường Đảng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Tóm tắt
Thực hiện chuẩn mực văn hóa trường Đảng với những yêu cầu và quy định đã được ban hành để mỗi thành viên trong tổ chức trường Đảng phải tự nguyện tuân thủ thực hiện nhằm hướng tới xây dựng môi trường văn hóa mới, với những giá trị cốt lõi của “văn hóa đảng”, “văn hóa chính trị” để trên cơ sở đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong tình hình mới.
Từ khóa: Thực hiện chuẩn mực; văn hóa trường đảng; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
1. Đặt vấn đề
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Đảng ta đặt ra yêu cầu phải tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân, trong đó đẩy mạnh phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; “phủ xanh thông tin tích cực”; “nêu gương người tốt, việc tốt”; và quan trọng nhất là thực hiện “nêu gương” của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu. Trường chính trị, với vai trò là cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học của tỉnh có vai trò đặc biệt trong việc chuyển tải những nội dung lý luận và thực tiễn để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu đó, việc xây dựng văn hoá trường đảng, tạo sự lan toả từ đội ngũ giảng viên, nhân viên Nhà trường đến đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị là đặc biệt quan trọng.
2. Vai trò của thực hiện chuẩn mực văn hoá trường Đảng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Văn hoá trường đảng được hình thành cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống trường đảng, đó là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị cấp tỉnh hiện nay. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến văn hoá trường đảng trong hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(2); “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(3). Mục đích của việc học trong trường đảng là:
“Học để làm việc,
làm người,
làm cán bộ.
Học để phụng sự Đoàn thể,
“ “ giai cấp và nhân dân,
“ “ Tổ quốc và nhân loại(4).
Vì lẽ đó, việc hình thành và lan toả văn hoá trường đảng trong hoạt động chuyên môn, trong giảng dạy, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn của nhà trường là nhiệm vụ được Đảng chú trọng quan tâm để đáp ứng yêu cầu của đòi hỏi thực tiễn trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. “Văn hóa Trường Đảng là hệ thống giá trị phản ánh trình độ tư duy lý luận chính trị khoa học, cách mạng, trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, cùng với các giá trị về văn hóa ứng xử, văn hóa ngoại hiện, có vai trò trong công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”(5).
Văn hóa trường Đảng thuộc phạm trù của văn hóa tổ chức, văn hoá công sở nhưng mang tính đặc thù và yêu cầu rất cao, khác biệt. Yêu cầu đó đặt ra là việc xây dựng văn hoá trường đảng phải tạo được sự lan toả đầy đủ đến người học và thông qua người học - đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị lan toả đến Nhân dân và toàn xã hội, để hình thành nên “đời sống văn hoá mới” với những giá trị cốt lõi là dân tộc, nhân văn, thời đại trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Văn hoá trường đảng trong giai đoạn hiện nay được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản là:
Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với lập trường giai cấp công nhân, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hiện thực hóa mục tiêu “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(6). Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ, giảng viên của nhà trường nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà Đảng ta đã xác định để tạo nền tảng vững chắc, tiếp thêm động lực và khẳng định được giá trị chân chính nền tảng tư tưởng của Đảng.
Văn hoá trường đảng được thể hiện ở năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, chuyển tải đầy đủ, hiệu quả những nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến học viên. Xây dựng hình ảnh người viên chức, giảng viên trường đảng có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trung thành, tận tụy, sáng tạo, chuyên nghiệp; xác định giá trị cốt lõi: đổi mới, mẫu mực, phụng sự, phát triển, thực hiện sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống chính trị của địa phương; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tham vấn chính sách cho các đơn vị góp phần gắn lý luận với thực tiễn nhằm đạt được mục đích “phát triển nhanh, bền vững” trong bối cảnh mới.
Văn hoá trường đảng được thể hiện bằng chính tinh thần tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên trong việc rèn luyện lối sống giản dị, trong sáng, mực thước trên tinh thần “trong Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
Mặt khác, văn hoá trường đảng cũng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm của quá trình đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường, đó là sự nghiêm túc, cầu thị trong học tập, nghiên cứu khoa học của chính các học viên của nhà trường, đó là bản lĩnh chính trị, là lập trường giai cấp, là phương pháp tư duy, lý luận khoa học, phong cách lãnh đạo, quản lý, là thái độ trong giao tiếp ứng xử và phục vụ Nhân dân. Đây là giá trị to lớn nhất mà văn hoá trường đảng lan toả đến xã hội, để mỗi cán bộ sau quá trình đào tạo, bồi dưỡng ở trường chính trị đều trở thành “những công bộc thực sự của Nhân dân”, để Nhân dân được thụ hưởng đầy đủ thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã chiến đấu, hy sinh gian khổ để mang lại.
Ngày nay, với thế giới phẳng, xu thế mở, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mang lại nhiều cơ hội để phát triển văn hóa trường đảng như có điều kiện được tiếp cận rộng rãi với các nền văn hóa, chính trị khác nhau, các xu hướng, trào lưu văn hóa, có thể tiếp thu các giá trị, chuẩn mực văn hóa mới, các mô hình giáo dục và quản lý tiên tiến nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ; các yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các trường đảng phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Bên cạnh đó, văn hoá trường đảng cũng đối diện với rất nhiều thách thức như: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, nhất là chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu phải đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu; những thách thức của an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống, đặc biệt là những luồng tư tưởng, quan điểm, thông tin đa chiều, thông tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng khiến cho việc thực hiện văn hoá trường đảng gặp không ít khó khăn; những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, xu thế, lối sống mới với việc gìn giữ những giá trị cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, văn hoá trường đảng với tính xã hội chủ nghĩa. Tất cả những yếu tố đó đều tác động đến việc xây dựng và phát triển văn hoá trường đảng ở cả góc độ tích cực lẫn tiêu cực. Vì vậy, phát huy ưu điểm, hạn chế những khuyết điểm là yêu cầu đặt ra nhằm xây dựng văn hoá trường đảng không chỉ trong trường đảng mà phải lan toả đến toàn hệ thống chính trị và qua hệ thống chính trị lan toả đến toàn xã hội và Nhân dân.
Văn hoá trường đảng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, văn hoá trường đảng hình thành nên những chiến sĩ tiên phong lãnh đạo Nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(7). Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới là minh chứng rõ ràng nhất để khẳng định chân lý và sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta hiện nay, là thước đo để củng cố niềm tin của Nhân dân ta vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, văn hoá trường đảng góp phần quan trọng hình thành nên đạo đức, tác phong của người cán bộ, đảng viên - những công bộc của Nhân dân, để họ trở thành những tấm gương sáng để Nhân dân noi theo, theo đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “muốn hướng dẫn Nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(8).
Thứ ba, văn hoá trường đảng là mạch máu để lý luận khoa học thấm sâu vào trong tư tưởng, đạo đức và hành động của đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên, để hình thành nên lý luận chính trị khoa học, là vũ khí sắc bén để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào đời sống xã hội.
Thứ tư, văn hoá trường đảng tạo ra lý luận khoa học sắc bén, được xem như “hệ miễn dịch” để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay, nhất là trên không gian mạng. Đây là vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi mạng xã hội đã trở thành kênh trực tiếp, thường xuyên đưa thông tin đa dạng, trái chiều, nhiều thông tin thất thiệt, mập mờ, tư duy xét lại, nơi những phần tử suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đang được các thế lực thù địch lợi dụng, hà hơi, tiếp sức để ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta.
3. Giải pháp để phát huy chuẩn mực văn hoá trường đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Trước hết, trường đảng phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ, giảng viên thực sự là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng và lý luận. Đó là đội ngũ những nhà giáo có kiến thức, kỹ năng và phương pháp khoa học trong nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn. Lấy hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng được đánh giá bằng sự hài lòng của Nhân dân về tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ sau quá trình đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ các cấp làm thước đo.
Thứ hai, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên nhà trường phải được quán triệt, vun đắp để thực sự là những tấm gương sáng, tận tuỵ trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ, nhiệm vụ rất vẻ vang của Đảng - đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công việc gốc của Đảng. Đây là nhiệm vụ cao quý được Đảng giao cho trường đảng vì vậy cần phải thực sự trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên trở thành người cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” nhằm tạo ra “thương hiệu” và có những đóng góp tích cực cho xã hội.
Thứ ba, xây dựng hệ thống quy định, quy chế, nội quy… từ tiêu chuẩn chức danh, quy trình nghiệp vụ trong giảng dạy, quản lý đến đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, giảng viên cũng như kết quả học tập, rèn luyện của học viên. Học viên đến trường đảng học tập, không chỉ được tiếp thu về lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, quản lý mà còn phải được trui rèn về đạo đức cách mạng, tác phong công tác, thái độ và chuẩn mực ứng xử với Nhân dân trong thực thi công vụ, nhiệm vụ theo đúng tinh thần Quy định 144 QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị “quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới”.
Thứ tư, tăng cường có hiệu quả các hoạt động đấu tranh của cán bộ, giảng viên, học viên trường đảng trên không gian mạng. Để thực hiện tốt việc này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân viên, học viên của nhà trường phải luôn quán triệt và chấp hành nghiêm những quy định của Đảng và Nhà nước về việc tham gia và có thái độ ứng xử phù hợp, văn minh trên các nền tảng mạng xã hội. Đặc biệt, đối với đội ngũ giảng viên, cần nghiên cứu, tìm hiểu và có phương pháp, lập luận khoa học, khách quan để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch đồng thời hướng dẫn học viên nhận diện và có phương pháp đấu tranh phù hợp những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn, cơ hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.
Thứ năm, thực hiện tốt, kịp thời công tác khen thưởng và kỷ luật để nhân rộng những điển hình tiên tiến, đồng thời phê phán, đấu tranh đối với những hành vi “lệch chuẩn” trong thực hiện văn hoá trường đảng, tạo hiệu ứng thúc đẩy cho tập thể nhà trường thực hiện “giảng dạy tốt, học tập tốt, quản lý tốt, phục vụ tốt” để xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đáp ứng được yêu cầu về phẩm chất và năng lực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Kết luận: Văn hóa trường đảng với những giá trị cốt lõi được kết tinh trong việc hiểu sâu sắc, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta. Trường đảng, với vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn - nơi góp phần tạo ra nền tảng tư tưởng của Đảng bằng việc chuyển tải những giá trị cốt lõi của lý luận khoa học Mác-xít đến học viên, từ đó lan toả những giá trị này thành thực tiễn sinh động đến mọi lĩnh vực của đời sống Nhân dân. Vì vậy thực hiện chuẩn mực văn hoá trường đảng không chỉ tạo ra giá trị cho trường đảng, cho bản thân mỗi cán bộ, giảng viên, nhân viên và học viên mà còn là “lá chắn mềm” để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và các quan điểm, sai trái, thù địch hiện nay.
ThS. Trần Thị Thùy
Giảng viên Khoa xây dựng Đảng
Tài liệu nghiên cứu
(1); (2); (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. 309, 280, 309.
(4); (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 6, tr. 208; tr.16.
(6); (7) (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Tập I, H.2026, tr.84; tr.44.
51 NĂM NHÌN LẠI THẮNG LỢI LỊCH SỬ MÙA XUÂN 1975
Tóm tắt: Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là thành quả vĩ đại của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau 21 năm kháng chiến chống Mỹ và 55 ngày đêm tấn công thần tốc, quân dân ta đã đập tan chế độ thực dân mới, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975. Chiến thắng này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa dân tộc vào kỷ nguyên độc lập, tự do mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đây là sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, đồng thời là minh chứng đanh thép để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử.
Từ khóa: Tổng tiến công, Việt Nam, lịch sử, thắng lợi.
Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dạy mùa xuân năm 1975 là thành quả của nhiều nhân tố, trong đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một nhân tố cơ bản, quan trọng. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Qua đó, Đảng ta đã đưa ra được những quyết định chính xác, trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới, trong nước, tương quan lực lượng giữa ta và địch để xác định đúng thời cơ lịch sử, hạ quyết tâm chiến lược đánh bại hoàn toàn đội quân của chính quyền Sài Gòn, giành thắng lợi triệt để trong thời gian ngắn nhất.
Những ngày tháng tư cách đây 51 năm, quân dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Số cố vấn quân sự còn lại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam cũng phải lên máy bay rút chạy. Lúc 04 giờ 45 phút sáng 30 tháng 4, Đại sứ Graham Martin[[1]] và đoàn tùy tùng lên máy bay trực thăng rời Sài Gòn như một cột mốc đánh dấu chấm hết cho sự dính líu kéo dài 21 năm của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên phủ Tổng thống ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đó là minh chứng cho sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam sau hơn 100 năm đất nước bị xâm lược, chiếm đóng và chia cắt.
Trở lại lịch sử, sau thất bại của quân đội thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), hiệp định Genève được kí kết vào ngày 21/7/1954. Tuy nhiên, phái đoàn Hoa Kỳ từ chối ký Hiệp định Genève. Âm mưu của đế quốc Mỹ là biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và chia cắt lâu dài đất nước ta, như Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị từng nhận định: “đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục âm mưu dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, hòng biến miền Nam thành một “quốc gia” thân Mỹ mà thực chất vẫn là thuộc địa kiểu mới của Mỹ”[[2]]. Để thực hiện âm mưu và tham vọng ngông cuồng của mình, đế quốc Mỹ đã đưa hơn 600.000 quân, bao gồm cả quân Mỹ và các đội quân tay sai khác sang Việt Nam làm chỗ dựa cho hơn một triệu quân ngụy. Mỹ đã huy động phần lớn lực lượng lục quân, thủy binh, không quân chiến thuật, không quân chiến lược, kể cả “pháo đài B52” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam, “đẩy miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”. Mỹ ném hơn 7,8 triệu tấn bom, rải khoảng 85 triệu lít chất độc hóa học, chủ yếu là dioxin, và tiêu tốn 676 tỷ đô la cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Đế quốc Mỹ thực hiện cuộc hủy diệt này không phải để giải phóng dân tộc Việt Nam mà với mục tiêu chiến lược là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương, biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thuộc địa kiểu mới, đặt nền móng cho sự thống trị toàn cầu của chúng.
Hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vẫn còn hiện hữu. Ngoài việc hơn 2 triệu người Việt Nam bị thương tật suốt đời; khoảng 2 triệu người phơi nhiễm các loại hóa chất độc hại; 1,1 triệu quân nhân hy sinh và 600.000 quân nhân bị thương tật. Trong số những người đã hy sinh, có hơn 300.000 quân nhân vẫn chưa tìm thấy hài cốt; những nạn nhân phơi nhiễm chất độc hóa học, những vùng đất bị nhiễm độc, bom mìn vẫn còn rải rác khắp nơi, tình trạng trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh ra và hàng triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm điôxin trong cuộc chiến. Nhân dân Việt Nam vẫn đang phải gồng mình với hậu quả bi thương, khắc nghiệt của cuộc chiến này.
Tuy nhiên, kết quả mà đế quốc Mỹ và tay sai nhận được là quân và dân ta càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng, còn kẻ địch càng đánh càng bị cô lập, phân hóa và sa lầy. Thực tế, chỉ qua 55 ngày đêm, từ chiến dịch: Tây Nguyên, đến: Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng. Hơn 1 triệu quân ngụy cùng bộ máy của chúng đã bị đập tan, chế độ thực dân mới được đế quốc Mỹ xây dựng qua 5 đời tổng thống (Dwight D. Eisenhower, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford) đã hoàn toàn sụp đổ.
Chính vì vậy mà chiến thắng ngày 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử. Một cuộc chiến mà khi nhìn lại, George C. Herring đã viết: “Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sụp đổ chỉ sau 55 ngày kể từ khi quân giải phóng bắt đầu tấn công. Điều này cũng chứng minh cho căn bệnh mà chính quyền này đã bị nhiễm phải ngay từ khi thành lập: sự manh mún về chính trị; tình trạng thiếu các nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có năng lực; một tầng lớp trên mệt mỏi và tham nhũng không có khả năng điều chỉnh cho thích nghi đã tạo nên một cơ sở quốc gia yếu kém đến mức nguy hiểm... Trước những thực tế khắc nghiệt này, nỗ lực nhằm tạo nên một thành trì chống chủ nghĩa cộng sản ở ngay phía nam vĩ tuyến 17 đã có mầm mống thất bại ngay từ đầu.”[[3]]
Đánh giá về thắng lợi này, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) đã nhận định rằng: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[[4]].
Chiến công lẫy lừng mùa xuân năm 1975 cách đây hơn 50 năm vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, bạn bè quốc tế và nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới; trở thành sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức phấn đấu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Như vậy, xuất phát từ tinh thần khát khao độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất của toàn thể dân tộc, chiến thắng này khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và vững bước xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chính vì vậy mà những luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chiến thắng của Nhân dân ta, phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà cả dân tộc ta đã lựa chọn và kiên trì theo đuổi đều không có cơ sở để tồn tại. Hay mọi sự lãng quên, coi thường, xuyên tạc sự hy sinh, mất mát nói trên của Nhân dân Việt Nam, các hoạt động tìm cách chống phá, gây mất ổn định, cản trở sự phát triển của Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của những phần tử lưu vong phản quốc, bọn cơ hội chính trị, bất mãn …dù là trong suy nghĩ đều đáng lên án và cần phải được đấu tranh loại bỏ, vì đó là những hành động sai, trái, có tội với Nhân dân, với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc để đất nước có được hòa bình, độc lập, thống nhất, hội nhập và phát triển như hôm nay./.
ThS. Huỳnh Văn Thông
Khoa Nhà nước và Pháp luật
[1] Graham A. Martin (1912 - 1990) là một nhà chính trị và ngoại giao Hoa Kỳ, ông đã kế nhiệm Ellsworth Bunker làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa năm 1973. Ông là đại sứ Mỹ cuối cùng tại Việt Nam Cộng hòa. Trước đó Martin làm Đại sứ Mỹ tại Thái Lan và là đại diện Mỹ tại SEATO.(Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization), cũng còn gọi là Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á hay Tổ chức Minh ước Đông Nam Á là một tổ chức quốc tế đã giải tán. Tổ chức phòng vệ này được thành lập căn cứ theo Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á hay Hiệp ước Manila được ký vào tháng 9 năm 1954).
[2] Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2000, tr.167-168.
[3] George C. Herring. Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950 – 1975, tr. 492.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, t.37, tr.471.






