Super User
VẬN DỤNG CÁC ĐIỂM MỚI VỀ DÂN CHỦ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG VÀO GIẢNG DẠY BÀI: THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
Tóm tắt
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh tổng kết 40 năm đổi mới, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận và thực tiễn. Trong Văn kiện lần này, dân chủ được nhấn mạnh với nhiều nội dung bổ sung quan trọng, thể hiện rõ hơn vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Bài viết phân tích những điểm mới về dân chủ trong Văn kiện Đại hội XIV, đồng thời làm rõ ý nghĩa lý luận và thực tiễn, từ đó vận dụng vào giảng dạy bài: “Thực hiện dân chủ ở cơ sở” trong chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị hiện nay.
Từ khóa: Đại hội XIV, dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ ở cơ sở, giảng dạy lý luận chính trị.
Đặt vấn đề
Dân chủ là một giá trị cốt lõi trong tiến trình cách mạng Việt Nam, gắn liền với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua các kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng về dân chủ ngày càng được hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển những thành tựu đó, đồng thời bổ sung nhiều điểm mới quan trọng, phản ánh yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng các điểm mới về dân chủ vào giảng dạy lý luận chính trị, đặc biệt là nội dung dân chủ ở cơ sở, có ý nghĩa thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện.
Nội dung
1. Những điểm mới về dân chủ trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Thứ nhất, Dân chủ được xác định rõ hơn là mục tiêu phát triển. Một trong những điểm mới nổi bật là việc khẳng định dân chủ ngay trong chủ đề Đại hội: “Vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh…”. Điều này cho thấy dân chủ không chỉ là phương thức tổ chức quyền lực mà còn là giá trị đích đến của chế độ ta. Dân chủ được đặt ngang hàng với các mục tiêu chiến lược khác, thể hiện tầm quan trọng đặc biệt trong tiến trình phát triển đất nước.
Thứ hai, Dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành trụ cột nền tảng. Đây là một điểm phát triển quan trọng về lý luận, cơ chế dân chủ là một trong ba trụ cột nền tảng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, cùng với kinh tế thị trường định hướng XHCN và Nhà nước pháp quyền. Điều này cho thấy dân chủ không chỉ là điều kiện của phát triển mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới, đồng thời là cơ chế quan trọng để phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đặc biệt, quan điểm “lấy Nhân dân làm trung tâm” tiếp tục được nhấn mạnh, thể hiện rõ vai trò chủ thể của Nhân dân trong toàn bộ quá trình phát triển. phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện đúng quan điểm "Dân là gốc", "sức mạnh từ Nhân dân", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu, động lực và là nguồn lực cho phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[1].
Thứ ba, Cụ thể hóa cơ chế thực hành dân chủ.
Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định và hoàn thiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường dân chủ cơ sở; làm tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam ở nước ngoài… Điểm mới là nhấn mạnh yêu cầu thực thi dân chủ, theo đó lấy kết quả thực hiện làm thước đo, lấy sự hài lòng của người dân làm tiêu chí đánh giá và chuyển từ “nhận thức” sang “hành động”. Điều này cho thấy dân chủ đã được cụ thể hóa thành cơ chế vận hành thực tiễn trong quản trị xã hội.
Thứ tư, Dân chủ gắn với đổi mới, hội nhập và phát triển. Văn kiện Đại hội XIV đặt dân chủ trong mối quan hệ chặt chẽ với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Dân chủ trở thành điều kiện để phát huy trí tuệ xã hội, khơi dậy nguồn lực trong Nhân dân, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa[2]. Đảng ta xác định rõ 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược; hướng tới xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược, tinh thần đổi mới, quyết tâm chính trị cao trước tình hình mới.
Thứ năm, Dân chủ trong quản trị quốc gia là điểm mới quan trọng gắn dân chủ với yêu cầu minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh vai trò của giám sát xã hội và phản biện chính sách. Vai trò giám sát của xã hội không chỉ bảo đảm việc thực thi chính sách, kế hoạch một cách công bằng, hiệu quả mà còn thúc đẩy tinh thần trách nhiệm, tính sáng tạo và tính liên kết giữa các chủ thể kinh tế - xã hội. Dân chủ không chỉ là quyền của người dân mà còn là yêu cầu đối với bộ máy nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả quản trị.
Thứ sáu, khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cụ thể là đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân; nâng cao năng lực quản trị xã hội; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.[3]
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
+ Về lý luận: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới. Đảng ta xác định "lý luận về đường lối đổi mới" là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc bổ sung "lý luận về đường lối đổi mới" vào nền tảng tư tưởng của Đảng là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận. Từ đó đã làm sâu sắc hơn lý luận về cơ chế dân chủ, khẳng định dân chủ là trụ cột nền tảng của mô hình phát triển, đồng thời bổ sung nhận thức về mối quan hệ giữa dân chủ, pháp quyền và phát triển.
+ Về thực tiễn: Những nội dung mới về dân chủ tạo cơ sở để Tăng cường sự tham gia của Nhân dân, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng và củng cố niềm tin của Nhân dân. Dân chủ được xác định là chìa khóa để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Ngày 07/02/2026, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã quán triệt chuyên đề về nội dung chủ yếu của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP và lần đầu tiên Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động cho thấy bước chuyển từ định hướng chính trị sang cơ chế tổ chức thực thi cụ thể, qua đó làm rõ hơn vai trò của dân chủ trong quản trị quốc gia hiện đại.[4]. Có 12 nội dung cốt lõi của chương trình hành động, trong đó nội dung thứ 10 về dân chủ được nhấn mạnh: “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện đúng quan điểm "Dân là gốc", "sức mạnh từ Nhân dân", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu, động lực và là nguồn lực cho phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thực hiện hiệu quả phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường dân chủ cơ sở; làm tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam ở nước ngoài… Theo đó, từng bộ, ngành, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và phải tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, nỗ lực phấn đấu cao nhất để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước đã đề ra theo Nghị quyết Đại hội XIV.
3. Vận dụng các điểm mới về dân chủ vào giảng dạy bài: “Thực hiện dân chủ ở cơ sở” thuộc chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị
Việc vận dụng các điểm mới về dân chủ trong Văn kiện Đại hội XIV vào giảng dạy không chỉ dừng lại ở việc cập nhật nội dung mà cần được triển khai một cách có hệ thống, gắn với phương pháp sư phạm phù hợp, nhằm chuyển hóa nhận thức thành năng lực thực hành dân chủ cho học viên. Trước hết, giảng viên cần lồng ghép các quan điểm mới về dân chủ theo từng nội dung bài giảng cụ thể. Trên cơ sở chương trình môn học, cần xác định rõ những nội dung có khả năng tích hợp, tránh tình trạng bổ sung cơ học, khiên cưỡng. Ví dụ, khi giảng về quyền làm chủ của Nhân dân, cần liên hệ trực tiếp với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; khi giảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần làm rõ các yêu cầu mới về minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV. Cách tiếp cận này giúp nội dung mới được tích hợp tự nhiên, góp phần làm sâu sắc thêm bài giảng. Bên cạnh đó, cần tăng cường sử dụng các tình huống thực tiễn trong giảng dạy. Thay vì truyền đạt lý thuyết một chiều, giảng viên có thể đưa ra các tình huống cụ thể ở cơ sở như việc người dân tham gia góp ý quy hoạch, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, hay công khai ngân sách tại địa phương. Trên cơ sở đó, yêu cầu học viên phân tích biểu hiện của dân chủ, đánh giá mức độ thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Thông qua phương pháp này, học viên không chỉ hiểu về dân chủ mà còn hình thành khả năng nhận diện và vận dụng trong thực tiễn công tác. Một giải pháp quan trọng khác là đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học viên. Giảng viên cần tăng cường tổ chức thảo luận, đối thoại, gợi mở các vấn đề thực tiễn gắn với nội dung dân chủ. Việc đặt ra các câu hỏi như “Làm thế nào để người dân thực sự được thụ hưởng thành quả của dân chủ?” hoặc “Những hạn chế trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay là gì?” sẽ tạo điều kiện để học viên trao đổi, phản biện và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Qua đó, bản thân quá trình dạy học cũng trở thành môi trường thực hành dân chủ, phù hợp với tinh thần của Văn kiện Đại hội XIV.
Đồng thời, giảng viên cần chủ động cập nhật và sử dụng các văn bản mới làm học liệu giảng dạy như Nghị quyết số 41/NQ-CP của Chính phủ và các chương trình hành động của địa phương. Việc đưa các nội dung này vào bài giảng không chỉ bảo đảm tính thời sự mà còn giúp học viên thấy rõ mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ trương của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội. Đây cũng là cơ sở để nâng cao tính thuyết phục của bài giảng. Ngoài ra, cần gắn nội dung dân chủ với trách nhiệm công vụ của học viên. Với đặc thù đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, việc giảng dạy không chỉ dừng lại ở nhận thức mà cần hướng tới hành động. Giảng viên cần làm rõ rằng dân chủ không chỉ là quyền của người dân mà còn là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong tổ chức thực hiện. Mỗi vị trí công tác đều có những yêu cầu cụ thể về phát huy dân chủ, từ công khai, minh bạch thông tin đến tiếp nhận và xử lý ý kiến của Nhân dân. Cuối cùng, cần đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng gắn với năng lực vận dụng. Thay vì chỉ kiểm tra kiến thức lý thuyết, có thể yêu cầu học viên phân tích một tình huống thực tiễn về dân chủ ở cơ sở hoặc đề xuất giải pháp phát huy dân chủ tại cơ quan, đơn vị công tác. Cách đánh giá này giúp đo lường được khả năng vận dụng của học viên, đồng thời góp phần hình thành tư duy thực tiễn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến dân chủ. Như vậy, việc lồng ghép hiệu quả các quan điểm mới về dân chủ trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị mà còn trực tiếp hình thành năng lực thực hành dân chủ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.
Kết luận
Những điểm mới về dân chủ trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là sự phát triển về lý luận mà còn mang ý nghĩa định hướng thực tiễn sâu sắc. Dân chủ được xác định rõ hơn là mục tiêu, động lực và cơ chế vận hành của quá trình phát triển đất nước.
Đồng thời, dân chủ không chỉ là nội dung giảng dạy mà còn là phương pháp đào tạo, góp phần hình thành tư duy dân chủ cho giảng viên và học viên Trường Chính trị. Việc vận dụng các nội dung dân chủ vào giảng dạy sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền dân chủ XHCN trong giai đoạn mới.
ThS. Lục Minh Thư
Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chính phủ. (2026). Nghị quyết số 41/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. (2026). Một số vấn đề mới, quan trọng trong dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình trung cấp lý luận chính trị, Phần học E.III: Kiến thức bổ trợ, Nxb LLCT, H, 2021.
[1] https://baochinhphu.vn/thu-tuong-lan-dau-tien-trong-lich-su-cac-ky-dai-hoi-dai-hoi-xiv-cua-dang-ban-hanh-chuong-trinh-hanh-dong-102260207100436079.htm
[2] https://baochinhphu.vn/cac-van-kien-the-hien-tam-nhin-chien-luoc-tinh-than-doi-moi-quyet-tam-chinh-tri-cao-102251012173300364.htm
[3] https://baochinhphu.vn/chuong-trinh-hanh-dong-cua-chinh-phu-thuc-hiennghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-102260313151348672.htm
VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÂM ĐỒNG
Tóm tắt: Chuyển đổi số trong giáo dục lý luận chính trị (LLCT) là xu thế tất yếu trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu đổi mới toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Bài viết phân tích vai trò trung tâm của đội ngũ giảng viên trong thúc đẩy chuyển đổi số tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, làm rõ những yêu cầu đặt ra, thực trạng năng lực số của giảng viên, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ này trong thời gian tới.
Từ khóa: Chuyển đổi số; giảng viên; lý luận chính trị; Trường Chính trị Lâm Đồng.
I. MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số (CĐS) đã trở thành xu thế tất yếu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đào tạo. Đối với các trường chính trị, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mà còn góp phần đổi mới phương thức quản lý, giảng dạy, đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong tình hình mới.
Thực tiễn cho thấy, CĐS trong giáo dục không đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) mà là sự đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy và học. Trong quá trình đó, đội ngũ giảng viên giữ vai trò trung tâm, là lực lượng trực tiếp triển khai và quyết định hiệu quả của CĐS.
Đối với Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên trong CĐS có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển địa phương trong giai đoạn mới.
II. NỘI DUNG
1. Chuyển đổi số trong giáo dục lý luận chính trị - yêu cầu tất yếu hiện nay
Chuyển đổi số trong giáo dục LLCT là quá trình ứng dụng công nghệ số nhằm đổi mới hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý đào tạo theo hướng hiện đại, hiệu quả và linh hoạt hơn. Nội dung của CĐS không chỉ dừng lại ở việc số hóa tài liệu mà còn bao gồm đổi mới phương pháp dạy học, xây dựng học liệu điện tử và tổ chức môi trường học tập trực tuyến.
Trong bối cảnh hiện nay, các môn LLCT có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan, bản lĩnh chính trị và phương pháp tư duy khoa học cho người học. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy truyền thống còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu tính tương tác và chưa phát huy được tính chủ động của học viên. Việc ứng dụng công nghệ số giúp nâng cao hiệu quả truyền đạt, tăng cường trao đổi hai chiều và tạo điều kiện cho người học tiếp cận tri thức đa dạng. Đặc biệt, hình thức dạy học kết hợp trực tiếp với trực tuyến trở nên phổ biến, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh CĐS một cách đồng bộ.
2. Vai trò của đội ngũ giảng viên trong thúc đẩy chuyển đổi số
Đội ngũ giảng viên là lực lượng trực tiếp triển khai các hoạt động chuyển đổi số tại Trường Chính trị tỉnh. Việc xây dựng bài giảng điện tử, tổ chức lớp học trực tuyến, khai thác học liệu số hay đổi mới phương pháp giảng dạy đều gắn chặt với vai trò của giảng viên.
Trước hết, giảng viên là chủ thể trực tiếp thực hiện CĐS. Hiệu quả chuyển đổi số phụ thuộc lớn vào khả năng thích ứng, tinh thần đổi mới và năng lực công nghệ của giảng viên. Trong môi trường giáo dục hiện đại, giảng viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn tổ chức, hướng dẫn và tạo điều kiện để học viên chủ động tiếp cận tri thức.
Bên cạnh đó, giảng viên còn là lực lượng sáng tạo nội dung số. Việc xây dựng bài giảng e-learning, video minh họa, ngân hàng câu hỏi hay tài liệu điện tử đòi hỏi giảng viên phải có năng lực nghiên cứu, khả năng khai thác và xử lý thông tin trong môi trường số.
Đối với giáo dục LLCT, giảng viên còn giữ vai trò định hướng tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường thông tin đa chiều. Vì vậy, giảng viên cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng chọn lọc thông tin chính xác và định hướng đúng đắn cho học viên.
Ngoài ra, chất lượng CĐS phụ thuộc nhiều vào phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và năng lực chuyên môn của giảng viên. Đây là yếu tố quyết định hiệu quả đổi mới giáo dục trong các trường chính trị hiện nay.
3. Thực trạng đội ngũ giảng viên trong thúc đẩy chuyển đổi số tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng
Trong thời gian qua, Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng đã từng bước triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy. Đội ngũ giảng viên đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức và bước đầu thích ứng với môi trường số.
Nhiều giảng viên chủ động sử dụng các nền tảng dạy học trực tuyến, khai thác tài liệu điện tử và ứng dụng phần mềm trình chiếu trong giảng dạy. Một số giảng viên đã xây dựng bài giảng e-learning, sử dụng hình ảnh, video và tình huống thực tiễn nhằm tăng tính sinh động cho bài giảng LLCT.
Về kỹ năng công nghệ, đa số giảng viên có khả năng sử dụng các công cụ công nghệ thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, đội ngũ giảng viên trẻ có khả năng thích ứng nhanh với môi trường số và tích cực tiếp cận các nền tảng học tập mới.
Tuy nhiên, quá trình CĐS vẫn còn nhiều hạn chế. Năng lực số của giảng viên chưa đồng đều; một bộ phận giảng viên còn gặp khó khăn trong thiết kế bài giảng điện tử và tổ chức lớp học trực tuyến. Việc ứng dụng công nghệ ở nhiều trường hợp vẫn mang tính hỗ trợ trình chiếu, chưa khai thác hiệu quả các công cụ tương tác số.
Bên cạnh đó, học liệu số còn thiếu tính hệ thống, chủ yếu do giảng viên tự xây dựng nên chưa đồng bộ và chưa hình thành kho dữ liệu dùng chung của nhà trường. Phương pháp giảng dạy ở một số trường hợp còn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều, chưa mạnh dạn áp dụng các mô hình dạy học hiện đại.
Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật, thiết bị và phần mềm hỗ trợ CĐS còn hạn chế; cơ chế khuyến khích giảng viên đổi mới chưa thực sự mạnh mẽ. Những yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả triển khai CĐS trong nhà trường.
4. Giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên trong chuyển đổi số
Để đội ngũ giảng viên thực sự trở thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy CĐS tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của giảng viên về CĐS. Nhà trường cần tăng cường tuyên truyền, quán triệt các chủ trương của Đảng và Nhà nước về CĐS trong giáo dục để giảng viên nhận thức rõ đây là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực số cho giảng viên. Cần tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng CNTT, thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng nền tảng học trực tuyến và khai thác học liệu số.
Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại. Khuyến khích giảng viên áp dụng các mô hình dạy học tích cực như lớp học đảo ngược, học tập kết hợp trực tiếp và trực tuyến, thảo luận nhóm trực tuyến nhằm phát huy tính chủ động của học viên.
Thứ tư, xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung. Nhà trường cần đầu tư xây dựng kho học liệu điện tử, ngân hàng câu hỏi, thư viện số và khuyến khích giảng viên tham gia chia sẻ tài liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu.
Thứ năm, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ phục vụ CĐS. Việc nâng cấp hệ thống mạng, trang bị thiết bị giảng dạy hiện đại và triển khai phần mềm quản lý học tập là điều kiện quan trọng để giảng viên thực hiện hiệu quả các hoạt động dạy học số.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế khuyến khích giảng viên đổi mới sáng tạo. Cần gắn kết quả CĐS với công tác đánh giá, thi đua, khen thưởng nhằm tạo động lực cho giảng viên tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy.
Thứ bảy, Ban Giám hiệu nhà trường cần xây dựng chiến lược chuyển đổi số tổng thể, có lộ trình cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện để kịp thời điều chỉnh phù hợp.
III. KẾT LUẬN
Chuyển đổi số là xu thế tất yếu và là yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo lý luận chính trị hiện nay. Trong quá trình đó, đội ngũ giảng viên giữ vai trò trung tâm, quyết định chất lượng và hiệu quả của chuyển đổi số.
Đối với Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, việc phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên trong chuyển đổi số không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mà còn đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, năng lực và tư duy đổi mới trong giai đoạn phát triển mới của địa phương.
ThS. Phạm Hồng Hải
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
3. Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
4. Chính phủ (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt “Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”.
5. Điền Văn Dần (2023), Chuyển đổi số trong giảng dạy môn lý luận chính trị ở các cơ sở giáo dục đại học hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước.
6. Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2022), Phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số, Tạp chí Giáo dục lý luận.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
8. Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng (2025), Báo cáo tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, Lâm Đồng.






