Thứ ba, 19/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI (19/5/1890 - 19/5/2026)!

Super User

Super User

NHẬN DIỆN MỘT SỐ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC

THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG VIỆC LỢI DỤNG TÔN GIÁO

ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA.

* Cấn Hoàng Vân Hương

Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật

 

Trong bất cứ thời kỳ nào, tôn giáo luôn là lĩnh vực nhạy cảm, dễ thu hút sự chú ý của xã hội. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, chúng chưa bao giờ từ bỏ việc lấy tôn giáo để tác động lên đời sống chính trị - xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ta.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo; trong đó có các tôn giáo mang tính chất quốc tế. Thời gian qua, nhờ thực hiện tốt các chính sách tôn giáo mà tình hình tôn giáo ở nước ta ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nhiều phong trào tôn giáo mới được du nhập vào Việt Nam; các thế lực thù địch vẫn không ngừng sử dụng các chiêu trò để công kích, chống phá Đảng và nhà nước ta; vấn đề tôn giáo trở nên ngày càng phức tạp không chỉ trong nước mà cỏn ở các nước trong khu vực. Dự báo bối cảnh quốc tế và khu vực, Đảng ta chỉ rõ: “Chủ nghĩa dân tộc, cực đoan, xung đột cục bộ, sắc tộc, tôn giáo... là những thách thức lớn đe dọa sự ổn định và phát triển ở một số khu vực, quốc gia”.

Liên quan đến vấn đề tôn giáo, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, trước hết phải nhận diện được các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng tôn giáo và đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn đó.

Có thể nhận diện âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng tôn giáo thông qua một số thủ đoạn sau:

Một là, chúng đi sâu vào phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, Pháp luật của Nhà nước về tôn giáo.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo được xây dựng trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để nhận thức một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc về những đặc điểm lịch sử, văn hóa Việt Nam - một đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo; các tôn giáo tồn tại đan xen, hòa đồng, gắn bó và đồng hành cùng dân tộc nhưng cũng thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm, phản động lợi dụng vào mục đích duy trì ách thống trị, bóc lột của chúng. Kế thừa Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, Đảng ta khẳng định quan điểm nhất quán trong quản lý nhà nước về tôn giáo là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bình đẳng và đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thành phần cực đoan hiện nay thường xuyên xuyên tạc việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Chúng đưa ra luận điệu rằng việc Nhà nước đưa ra Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cùng các chính sách tôn giáo chính là hình thức đàn áp tôn giáo, kìm hãm sự tự do của tôn giáo bằng Pháp luật. Chúng lợi dụng thuật ngữ “tự do tôn giáo” làm ngòi nổ, bàn đạp để chống lại Đảng và Nhà nước ta, nhằm tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Đảng và Nhà nước.

Để thực hiện âm mưu của mình, các thế lực thù địch hỗ trợ các linh mục mang tư tưởng cực đoan phát hành bài viết, ấn phẩm, tài liệu đi ngược với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết dân tộc ta.

Hiện nay, với sự xuất hiện của nhiều phong trào tôn giáo mới, trong đó có các loại “tà đạo”. Chúng lợi dụng điều đó để hỗ trợ, khích lệ các hoạt động truyền đạo trái phép gây mất trật tự chính trị - xã hội, mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Hai là, chúng kích động mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính quyền, giữa người có đạo với người không có đạo, giữa các tôn giáo với nhau nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng chính sách đổi mới, mở cửa, tăng cường tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời lợi dụng những tồn tại trong quản lý của chính quyền địa phương để thổi phồng, dẫn dắt dư luận nhằm lôi kéo và tập hợp quần chúng chống phá Đảng, Nhà nước, đặc biệt là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Chẳng hạn như việc chúng cố tình xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý suy bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo nhằm gây ra mâu thuẫn giữa tôn giáo với Nhà nước và giữa các tôn giáo với nhau.

Một số tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để lôi kéo người dân tham gia các loại “tà đạo”, lấy niềm tin của nhân dân. Chúng kích động tư tưởng nhân dân, gây xung đột, tư tưởng đối lập giữa đạo và đời sống thực tế, làm cho người sùng đạo và tin tưởng tuyệt đối vào thần linh, chúa trời,… Qua đó, làm cho nhân dân mất niềm tin vào thực tế, kích động nhân dân đòi tự do tôn giáo một cách cực đoan, hình thành nên một lực lượng ngầm chống phá Đảng và Nhà nước.

Đan xen vào đó là những tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan nhằm chia rẽ dân tộc. Chúng lợi dụng tôn giáo và những giá trị tốt đẹp của tôn giáo để đòi tự do, đòi thành lập “vương quốc tự trị”; chúng đưa ra những luận điệu, lý lẽ cho rằng Đảng và Nhà nước “phân biệt đối xử” với những người có đạo, ưu tiên cho những người không theo đạo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thời gian qua, những tư tưởng mang tính kích động, chia rẽ tôn giáo và dân tộc cũng phần nào tác động đến một số hành vi vi phạm pháp luật về tôn giáo như: tranh chấp, khiếu kiện, mua bán, lấn chiếm, chuyển nhượng, hiến tặng đất đai trái pháp luật, xây dựng cơ sở sinh hoạt, thờ tự trái quy định liên quan đến tôn giáo, vi phạm quy định về thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tôn giáo; việc thành lập các cơ sở tôn giáo trực thuộc chưa được sự chấp thuận của chính quyền,…

Ba là, chúng thành lập các tổ chức mang danh tôn giáo, lợi dụng các hình thức sinh hoạt tôn giáo để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước.

Đảng ta chủ trương thực hiện các chính sách tự do tôn giáo, tính đến tháng 11/2021, Việt Nam có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Tuy nhiên, lợi dụng quyền tự do tôn giáo, thời gian qua ở nước ta xuất hiện một số tổ chức tôn giáo trái pháp luật, hay còn gọi là các tổ chức “tà đạo”. Dưới danh nghĩa là các tổ chức tôn giáo, chúng lôi kéo người dân tham gia vào hội, nhóm và tổ chức các buổi sinh hoạt tôn giáo để tuyên truyền giáo lý, giáo luật của mình. Nhưng thực chất, chúng lợi dụng việc truyền đạo để lồng ghép các nội dung xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, tuyên truyền mê tín dị đoan, gây ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, sức khỏe của người dân. Bằng các thủ đoạn ngày càng tinh vi, đánh vào tâm lý người dân, các nội dung tuyên truyền đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội; thậm chí nguy hiểm hơn là có một bộ phận người dân còn nghe theo, làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch, tổ chức các buổi mít-tinh, biểu tình trái pháp luật xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Đáng chú ý hiện nay, có thể kể đến một số tổ chức tà đạo như: “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “Hà Mòn”, “Hoàng Thiên Long”… 

Các loại tà đạo nói trên đa số xuất hiện và hoạt động ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có hoàn cảnh khó khăn. Lợi dụng việc người dân gặp những khó khăn trong cuộc sống và trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, chúng dễ dàng đưa các lý lẽ của mình để thuyết phục người dân tin theo. Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của mạng xã hội, thông tin được kết nối và chia sẻ dễ dàng, chúng còn lôi kéo được cả một bộ phận là những người trí thức, cán bộ, hay giáo sư, tiến sỹ đã nghỉ hưu thông qua các hoạt động nhân đạo trá hình vì sức khỏe, vì môi trường,… Những người này ban đầu chỉ tham gia vì những điều hay, điều tốt nhưng lâu dần sẽ có khả năng bị lôi kéo mà tin theo các phần tử cực đoan.

Bốn là, chúng lợi dụng tôn giáo để thực hiện các hoạt động thương mại hóa, trục lợi về mặt kinh tế.

Bản chất của tôn giáo là dạy con người hướng thiện, sống tốt đời đẹp đạo dựa trên việc truyền niềm tin cho họ. Tuy nhiên, khi niềm tin quá xa rời thực tế thì dễ chuyển thành mê tín dị đoan. Lợi dụng yếu tố này, nhiều tổ chức tôn giáo sinh ra với mục đích thương mại hóa tôn giáo nhằm trục lợi về mặt kinh tế. Chẳng hạn như: hiện tượng bán vé vào chùa, nhà chùa từ chối giải hạn cho người nghèo, sử dụng tiền đóng góp của phật tử hay các tín đồ để phục vụ cho lợi ích cá nhân,… Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế của người dân, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tôn giáo của Nhà nước. Đây cũng là một trong những yếu tố để nhận diện thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch hiện nay.

Tóm lại, tôn giáo luôn là vấn đề nhạy cảm và được xem như là “ngòi nổ” của các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta. Các thế lực thù địch ngày nay lợi dụng tôn giáo với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng, khó lường, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, mang cả yếu tố quốc tế, tác động lên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, giáo dục cho đến lĩnh vực chính trị, an ninh – quốc phòng. Vì vậy, những âm mưu, thủ đoạn này ngày càng khó phát hiện và nhận diện, đòi hỏi sự cảnh giác, tính chủ động cao của Đảng và Nhà nước ta; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức tôn giáo truyền thống đã được công nhận. Bên cạnh đó, cần phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhằm đập tan mọi âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước ta.

GIÁ TRỊ CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC CỦA TÁC PHẨM

“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”  TỪ GÓC NHÌN ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

 

                                          Nguyễn Thế Nguyên – Khoa Xây dựng Đảng

 

“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” là tác phẩm được C. Mác và Ph. Ăngghen soạn thảo vào năm 1847 và lần đầu tiên tác phẩm được xuất bản năm 1848. Đây là tác phẩm được xem như là bản tuyên ngôn, là cuốn sách gối đầu giường của những người cộng sản. Sở dĩ Tuyên ngôn có sức sống lâu bền và giá trị to lớn như thế trước hết là bởi nội dung của nó mang tính cách mạng và khoa học rất sâu sắc. Đúng như V.I. Lênin nhận định: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã "trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xã hội, - phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng - trong lịch sử toàn thế giới - của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới, xã hội cộng sản"(1). Sự đúc kết những trải nghiệm thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân cũng như quy luật về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản… những luận giải khoa học và lôgic của C. Mác và Ph. Ăngghen là điều kiện để các nước đấu tranh chống sự áp bức của chủ nghĩa tư bản nói chung cũng như là tiền đề để các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam cũng chính là sự kế thừa những tinh hoa, quy luật phát triển khách quan được đúc rút từ tác phẩm để từ đó Đảng ta đã ứng dụng một cách sáng tạo vào sự phát triển và xây dựng đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Trước hết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn đề về đổi mới đảng và xây dựng đảng. Việt Nam là đất nước phát triển theo con đường Xã hội chủ nghĩa có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong hệ thống chính trị, Đảng cộng sản không chỉ là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong chính trị của toàn xã hội, có vai trò rất quan trọng, là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, lại là một thành viên của hệ thống chính trị. Hơn 90 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Công tác xây dựng Đảng được xem là nhiệm vụ then chốt. Công tác này tập trung vào việc nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời coi trọng xây dựng và củng cố tổ chức, kiện toàn đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách công tác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho rằng những người cộng sản khác quần chúng nhân dân ở hai điểm cơ bản: gương mẫu trong thực tiễn và phải có trình độ lý luận. Các ông viết: "Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất..., là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản"(2). Vì thế, nâng cao trình độ lý luận và sự gương mẫu trong hoạt động thực tiễn luôn luôn là đòi hỏi đối với đảng viên và là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, nhất là trong điều kiện ngày nay.

Cùng với đổi mới về Đảng và xây dựng đảng, hệ thống chính trị của nước ta cũng được từng bước đổi mới một cách vững chắc. Xuất phát từ các giá trị lý luận về nhà nước và pháp luật trong Tuyên ngôn và các giá trị phổ quát của nhân loại về xây dựng nhà nước pháp quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Đây là một yêu cầu khách quan, bắt nguồn từ định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta ý thức sâu sắc rằng, để thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa thì phải có một Nhà nước pháp quyền mạnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính khách quan đó còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế đòi hỏi phải đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Mặc dù trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không trực tiếp dùng thuật ngữ "nhà nước pháp quyền", nhưng những tư tưởng cơ bản của nó đã được đề cập một cách sâu sắc. Đó là tư tưởng về xây dựng một nhà nước kiểu mới, hoạt động trên cơ sở pháp luật với một nền pháp chế dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” C. Mác và Ph. Ăngghen đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, trong đó Nhà nước có trách nhiệm tổ chức đời sống chung của nhân dân, bảo đảm sự phát triển tự do tối đa và "phát triển toàn diện con người". Tự do trong Tuyên ngôn được C. Mác quan niệm "là biến nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội thành cơ quan hoàn toàn phục tùng xã hội". Đây thực sự là tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới với bản chất là nền dân chủ mới, dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Công cuộc xây dựng cũng như đổi mới đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng luôn được soi sáng bởi tư tưởng của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung, trải qua 92 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao khó khăn thử thách, huy động được mọi nguồn lực của đất nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, giành thắng lợi vẻ vang trong cách mạng dân tộc dân chủ và đang từng bước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục đích cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tư tưởng chủ đạo của Tuyên ngôn đó là: giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách áp bức bóc lột, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nội dung của đường lối đổi mới chính là thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung cũng như những tư tưởng trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới. Đại hội VI (12-1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức cán bộ; từ đổi mới phương pháp lãnh đạo đến phong cách công tác; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị, tư tưởng, văn hóa... Đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Song đó hoàn toàn không phải là sự thay đổi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả hơn bằng những quan niệm đúng đắn và những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

Đổi mới tư duy là nhằm loại bỏ những quan niệm sai lầm, khắc phục những nhận thức lạc hậu, lỗi thời về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện mới. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của toàn bộ hệ thống chính trị để bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Toàn bộ thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và những diễn biến trên thế giới vừa qua chứng minh rằng, trước tình hình có nhiều thay đổi, thời cơ và thách thức luôn luôn xuất hiện, nếu không kiên định lập trường, xa rời những vấn đề có tính nguyên tắc sẽ dẫn đến đổ vỡ không gì cứu vãn được. Mặt khác, nếu tự bằng lòng với những nguyên lý lý luận sẵn có, xơ cứng giáo điều, không đi sâu tìm tòi, tổng kết thực tiễn để kịp thời điều chỉnh thì sẽ không tận dụng được thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức để đưa đất nước tiến lên. Sức sống của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” không chỉ ở những luận điểm, nguyên lý chung mà còn được thể hiện ở việc bổ sung, vận dụng sáng tạo vào các hoàn cảnh lịch sử cụ thể để giành thắng lợi.

Thành công của công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ được thể hiện ở công tác xây dựng và đổi mới đảng, không chỉ thể hiện ở việc hoàn thiện hệ thống chính trị mà còn được thể hiện ở lĩnh vực kinh tế. Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng cơ bản của Tuyên ngôn là: "Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”(3). Với quan niệm đó, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước hết là, và trọng tâm là quá trình xây dựng, phát triển kinh tế. Nhìn lại hơn 35 năm qua, đường lối xây dựng kinh tế của Đảng ta đã có bước phát triển về nhận thức lý luận. Từ tư duy kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ xây dựng chế độ sở hữu đơn nhất chuyển sang chế độ đa sở hữu bình đẳng cùng phát triển, trong đó công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Từ Nhà nước độc quyền quản lý, can thiệp trực tiếp vào kinh tế chuyển sang Nhà nước quản lý bằng chính sách, pháp luật, kế hoạch, lực lượng vật chất và một số công cụ khác. Từ phân phối bình quân, cào bằng chuyển sang phân phối theo lao động, kết hợp với các hình thức phân phối khác theo mức độ đóng góp thực tế vào quá trình tạo ra của cải và qua phúc lợi xã hội. Từ quan niệm công bằng theo kiểu bình quân trong phân phối thu nhập chuyển sang quan niệm công bằng về cơ hội phát triển, trên cơ sở Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển. Từ tư duy kinh tế khép kín sang tư duy kinh tế mở, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập, v.v...

Những đổi mới tư duy trong lĩnh vực kinh tế nói trên là xuất phát từ thực tiễn nước ta, một nước nghèo nàn, kinh tế lạc hậu, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém. Do đó, trước hết phải tập trung phát triển lực lượng sản xuất, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển trong một thể thống nhất, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nó đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Đây là hai nội dung của mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong tất cả các giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường ở nước ta. Tăng trưởng kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục, vì mục tiêu phát triển con người, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhà nước có vai trò tổ chức, dẫn dắt và tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm đổi mới ở nước ta, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn và tin tưởng vững chắc vào các giá trị của Tuyên ngôn về  tính cách mạng và khoa học cũng như những nguyên lý cơ bản của thế giới quan cách mạng, về các phương pháp luận khoa học trong việc xem xét và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đó là cơ sở lý luận và phương pháp luận để Đảng ta tổ chức và lãnh đạo cách mạng nước ta đi tới thắng lợi. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, học thuyết Mác - Lê-nin nói chung, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nói riêng, luôn luôn sinh động và không ngừng phát triển. “ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là tuyên ngôn của thời đại đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bất công, xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp.

---------------

Tài liệu tham khảo:

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản (tái bản). Nhà xuất bản chính trị quốc gia – HN 2018

- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, X, XI,XII,XIII

Chú thích:

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, t 26, tr 57

(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t4, tr 614

(3) C. Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 21, tr 11

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001724432
Đang truy cập : 6