Super User
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
Người viết: ThS. Nguyễn Thị Thành Minh
Khoa Nhà nước và pháp luật
Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch là một trong những ngày lễ trọng đại được mọi người dân Việt Nam mong đợi. Đây là một lễ hội lớn nhằm tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc.
Giỗ tổ Hùng Vương hay còn gọi là lễ hội Đền Hùng hay Quốc Giỗ là ngày giỗ các vị vua Hùng. Đa số người dân nước Việt Nam đều biết rõ ngày Giỗ tổ Hùng Vương, bởi đây là một ngày lễ quan trọng của dân tộc nhằm tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công dựng nước của các vị vua. Ngày Giỗ tổ Hùng Vương là ngày Quốc lễ mang âm hưởng bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Lễ hội Đền Hùng được diễn ra hằng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng Phú Thọ. Hằng năm, cứ vào ngày này người dân trên cả nước đổ về Đền Hùng để thăm viếng các vị vua Hùng những người đã có công đóng góp, dựng nước Văn Lang cho dân tộc Lạc Việt. Lễ hội Đền Hùng tại Phú Thọ là một di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.
Nguồn gốc của ngày Giỗ tổ Hùng Vương
Theo truyền thuyết xưa, Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là thuỷ tổ của dân tộc Việt Nam. Nàng Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra một trăm người con là tổ tiên của người Bách Việt, 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên núi và người con cả được truyền ngôi lên làm vua lấy hiệu là Hùng Vương.
Lịch sử ngày Giỗ tổ Hùng Vương xuất hiện cách đây hơn hai nghìn năm vào thời vua An Dương Vương, trên cột đá thề dựng trên núi Nghĩa Lĩnh có ghi rằng: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giáng, nước Nam được trường tồn ở miếu Tổ Hùng Vương, xin đời đời trôm nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Hùng Vương trao lại; nếu nhạt hẹn, sai thề sẽ bị gió giăng, búa dập”. Do đó, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân ta vẫn tổ chức lễ hội để ca ngợi sự hi sinh lớn lao của các vị vua Hùng đối với non sông đất nước, những vị vua đã có công lớn ngay từ khi lên ngôi, đã sát lập ngọc phả về thời đại Hùng Vương.
Lễ hội Đền Hùng diễn ra vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như: đâm đuống (hay còn gọi đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng và kết thúc vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dân hương trên Đền Thượng. Lễ hội Đền Hùng được nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành Quốc Giỗ, tổ chức lớn vào những năm chẵn. Có hai lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội tại Đền Hùng đó là: Lễ rước kiệu vua, đám rước kiệu nhiều màu sắc của rất nhiều cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới Đền Thượng nơi làm lễ dân hương. Lễ dâng hương – người hành hương tới Đền Hùng vì nhu cầu đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những tâm niệm của mình với tổ tiên. Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đó là những cuộc thi hát Xoan một hình thức dân ca đặc biệt của Phú Thọ. Những cuộc thi vật, thi kéo co, thi bơi chải ở ngã ba sông Bạch Hạt nơi các Vua Hùng luyện tập các đoàn binh thuỷ luyện chiến.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tính từ thời Kinh Dương Vương, vào năm 2879 trước công nguyên cho đến hết thời Hùng Vương năm 258 trước công nguyên kéo dài 2622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 trước công nguyên thì bị thục phán tức An Dương Vương thôn tích (theo Nguyễn Khắc Thuần trong Thế thứ các triều đại vua Việt Nam) thì 18 vị Vua Hùng là:
1. Kinh Dương Vương từ năm 2879 - 2794 trước công nguyên
2. Hùng Hiền Vương còn được gọi là Lạc Long Quân từ 2793 – 2525 trước công nguyên
3. Hùng Lân Vương từ 2524 – 2253 trước công nguyên
4. Hùng Việp Vương từ 2252 – 1913 trước công nguyên
5. Hùng Hi Vương từ 1912 – 1713 trước công nguyên
6. Hùng Huy Vương từ 17112 – 1632 trước công nguyên
7. Hùng Chiêu Vương từ 1631- 1432 trước công nguyên
8. Hùng Vĩ Vương từ 1431 – 1332 trước công nguyên
9. Hùng Định Vương từ 1331 – 1252 trước công nguyên
10. Hùng Hi Vương từ 1251 – 1162 trước công nguyên
11. Hùng Trinh Vương từ 1161 – 1055 trước công nguyên
12. Hùng Vũ Vương từ 1054 – 969 trước công nguyên
13. Hùng Việt Vương từ 968 – 854 trước công nguyên
14. Hùng Anh Vương từ 854 – 755 trước công nguyên
15. Hùng Triêu Vương từ 754 – 661 trước công nguyên
16. Hùng Tạo Vương từ 660 – 569 trước công nguyên
17. Hùng Nghị Vương từ 568 – 409 trước công nguyên
18. Hùng Duệ Vương từ 408 – 258 trước công nguyên
Ý nghĩa của ngày Giỗ tổ Hùng Vương
Giỗ tổ Hùng Vương là lễ hội tôn vinh giá trị truyền thống trong tâm thức người Việt. Mang trong mình niềm tự hào dân tộc, hình tượng Hùng Vương đại diện cho sự kỳ vĩ của các vị anh hùng Việt Nam. Ngày lễ Giỗ tổ Hùng Vương là dịp để con cháu rồng tiên có cơ hội để thể hiện lòng biết ơn, lòng tự tôn dân tộc qua suốt mấy nghìn năm lịch sử. Người Việt Nam luôn ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Đây chính là một lời khẳng định cho tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam luôn luôn hướng về tổ quốc thân yêu. Giổ tổ Hùng Vương mang âm hưởng dân tộc ca ngợi những đức tính cao đẹp của con người Việt Nam.

Bác Hồ nói chuyện với Đại đoàn quân tiên phong tại Đền Hùng (Phú Thọ) ngày 19/9/1954
Bác Hồ đã từng dạy rằng: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Bác Hồ khẳng định nước ta là một nước văn hiến, có truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời, và công lao dựng nước của các vua Hùng thật là to lớn. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.
Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta luôn luôn phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh, dân tộc ta đã tạo nên một truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo và có tinh thần độc lập tự chủ. Vì thế dân ta đã làm nên biết bao chiến công oai hùng, dựng nên đất nước, khẳng định quyền và bồi đắp bản sắc dân tộc./.
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU THỰC TẾ CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY
ThS. Nguyễn Thị Thành Minh
Khoa Nhà nước và pháp luật
Nghiên cứu thực tế là một nhiệm vụ thường xuyên của giảng viên trường Chính trị, muốn dạy tốt, trước hết phải nghiên cứu tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Lý luận với thực tiễn có mối liên hệ khăng khít với nhau không thể tách rời, tác động lẫn nhau, chuyển hóa cho nhau. Nghiên cứu thực tế của giảng viên là việc tìm hiểu, khảo sát, điều tra thực tế những biểu hiện, ảnh hưởng, tác động của lý luận vào đời sống kinh tế - xã hội, từ đó, hiểu sâu sắc hơn kết quả chính xác và góp phần trở lại bổ sung, phát triển lý luận. Nghiên cứu thực tế không chỉ giúp người giảng viên nâng cao trình độ hiểu biết, nắm bắt thực tiễn mà còn là điều kiện đảm bảo sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, giảng dạy, tránh được “lý luận suông” về thực tiễn “mù quáng”.
1. Một số đánh giá về kết quả nghiên cứu thực tế của giảng viên ở trường thời gian qua
Việc tổ chức đi nghiên cứu thực tế góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên. Thông qua hoạt động thực tiễn, các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, nghị quyết của đảng về chính sách, pháp luật của Nhà nước... được truyền tải đến giảng viên một cách nhanh chóng, chính xác và sáng tạo, góp phần gắn giữa lý luận và thực tiễn.
Việc đi nghiên cứu thực tế ở cơ sở giúp cho giảng viên nắm bắt được tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa ở địa phương, các kỹ năng xử lý tình huống nảy sinh trong thực tế. Đây là nguồn tư liệu quý làm bài giảng sinh động, cụ thể, đến sát thực tiễn, khắc phục được tình trạng “lý luận suông”, đồng thời, phát hiện những thiếu sót, bất cập trong các chủ trương, đường lối, chính sách của đảng và nhà nước để có kiến nghị điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung.
Mặt khác, thông qua nghiên cứu thực tế, góp phần giúp cho giảng viên bổ sung kiến thức thực tiễn, phân tích, lý giải thực tiễn, làm cho bài giảng luôn sinh động, lôi cuốn học viên và có tính thuyết phục cao; giảng viên có điều kiện rèn luyện kỹ năng, tích lũy kiến thức thực tế, kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, trong đó thiết thực vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và rèn luyện bản lĩnh khi lên lớp.
Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu thực tế của giảng viên vẫn còn những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, trách nhiệm của một bộ phận giảng viên đối với hoạt động nghiên cứu thực tế chưa cao. Một số giảng viên còn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu thực tế. Hoạt động nghiên cứu thực tế hằng năm chưa được triển khai nghiêm túc từ công tác xây dựng kế hoạch đến đi nghiên cứu thực tế, đến công tác kiểm tra, giám sát đi nghiên cứu tại địa phương, công tác đôn đốc viết và nộp báo cáo đúng thời hạn quy định. Đi nghiên cứu thực tế ở cơ sở thường chọn nơi quen biết, dễ đi, dễ đến, về địa phương nghe báo cáo (hoặc xin báo cáo).
Thứ hai, chất lượng các báo cáo thực tế của giảng viên còn hạn chế về nội dung đánh giá. Vẫn còn có những báo cáo chưa đúng về thể thức, chưa xác định mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu, nhiều báo cáo nghiên cứu thực tế còn viết qua loa, chưa đầu tư về thời gian và tâm huyết nghiên cứu, còn mang tính đối phó. Đa số các giải pháp, kiến nghị của các báo cáo nghiên cứu thực tế còn chung chung, thiếu sáng tạo, tính khả thi trong ứng dụng và tính khoa học chưa cao. Vì vậy, kiến thức giảng viên lĩnh hội trong nghiên cứu thực tế cũng như chất lượng của báo cáo thực tế chưa có giá trị khoa học và ứng dụng cao trong thực tiễn.
Thứ ba, công tác ứng dụng kết quả sau nghiên cứu thực tế của giảng viên chưa cao. Chưa có sự kiểm tra, giám sát việc đưa sản phẩm của nghiên cứu thực tế vào trong bài giảng của giảng viên. Sản phẩm của nghiên cứu thực tế của giảng viên không có giá trị khoa học cao, nên hạn chế trong việc ứng dụng trong thực tiễn, đặc biệt là bài viết trong Thông tin Lý luận và thực tiễn của nhà trường.
2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu thực tế
Để nâng cao chất hơn nữa chất lượng hoạt động nghiên cứu thực tế của giảng viên đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, cần thực hiện một số giải pháp sau đây:
Một là, đối với giảng viên.
Giảng viên phải nâng cao hơn nữa nhận thức về hoạt động nghiên cứu thực tế, phải coi nghiên cứu thực tế ở địa phương, cơ sở là yêu cầu tự thân, đòi hỏi bắt buộc. Nhận thức đúng sẽ hành động đúng làm cho chất lượng nghiên cứu thực tế, chất lượng giảng dạy sẽ được nâng lên. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ và trách nhiệm của giảng viên là phải thực hiện và thực hiện tốt các hoạt động nghiên cứu thực tế. Qua nghiên cứu thực tế, giảng viên nắm bắt đầy đủ thông tin về đời sống kinh tế - xã hội liên quan đến sự phát triển của địa phương, của đất nước, lý giải những vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở cơ sở…
Kinh nghiệm sống và thực tiễn phong phú của giảng viên là tấm gương sinh động nhất thu hút sự quan tâm của học viên, bởi lẽ thông qua thực tiễn các phong trào, các hoạt động ở các địa phương, cơ sở mà bản thân giảng viên được tai nghe, mắt thấy hoặc trực tiếp tham gia hoạt động sẽ là những nội dung làm cho bài giảng gần gũi, phong phú, sáng tỏ, tiết học thêm sôi nổi. Vì vậy, mỗi giảng viên tự nâng cao nhận thức về vai trò của hoạt động nghiên cứu thực tế ở cơ sở, đây là vấn đề quan trọng, bởi thực tiễn luôn vận động biến đổi. Người giảng viên phải nắm bắt, cập nhật tình hình về những thông tin kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương, đất nước. Qua đó sẽ giúp giảng viên có thêm lối kiến thức, gắn lý luận với thực tiễn, nâng cao chất lượng bài giảng. Khi nhận thức của giảng viên về vai trò của hoạt động nghiên cứu thực tiễn ở cơ sở được nâng cao thì tránh tình trạng hình thức, đối phó, làm báo cáo qua loa.
Hai là, đối với các khoa.
Các khoa là đơn vị trực tiếp quản lý hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế của giảng viên. Do đó, để hoạt động nghiên cứu thực tế đạt hiệu quả, cần bám sát quy chế, hướng dẫn của Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kế hoạch của Nhà trường, trên cơ sở đó xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể và triển khai đến giảng viên trong khoa. Bên cạnh đó, các khoa cần tăng cường tổ chức cho giảng viên đi nghiên cứu thực tế về cơ sở, mỗi chuyến đi đến xây dựng kế hoạch, nội dung cụ thể gắn với vấn đề lý luận thuộc phần học của khoa. Đồng thời, một mặt lãnh đạo khoa cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá, nắm bắt tình hình, kịp thời khuyến khích, hỗ trợ giảng viên trong quá trình nghiên cứu thực tế; mặt khác, khoa yêu cầu mỗi đảng viên phải chủ động trong việc xây dựng kế hoạch và triển khai hoạt động nghiên cứu của cá nhân, báo cáo thường xuyên những vấn đề có liên quan đến hoạt động nghiên cứu thực tế.
Ba là, tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các địa phương, cơ sở đi nghiên cứu thực tế.
Sự hỗ trợ, giúp đỡ của địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng, nếu không có sự hỗ trợ thì khó có thể thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu thực tế của giảng viên. Do đó, trước khi đến các địa phương, khoa, giảng viên xin ý kiến Ban giám hiệu để được tạo mọi điều kiện tốt về chính sách và thực hiện tốt công tác liên hệ, trao đổi trước nội dung cần nghiên cứu với địa phương, cơ sở, để địa phương, cơ sở có thể chuẩn bị tốt hơn về chương trình, báo cáo với đoàn nghiên cứu thực tế.
Tóm lại, nghiên thực tế là một việc làm rất cần thiết đối với đội ngũ giảng viên, những kiến thức từ việc nghiên cứu thực tế sẽ giúp giảng viên tự tin và chủ động hơn trong nghiên cứu, giảng dạy, giúp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học trở nên thiết thực, hiệu quả hơn, tránh tình trạng giáo điều, “kinh viện”, đảm bảo thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy. Vì vậy, trong thời gian tới, cần phải liên tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu thực tế đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa ngày càng cao đối với đội ngũ giảng viên ở trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng.






