Super User
CAO TỐC DẦU GIÂY – LIÊN KHƯƠNG HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN
Đại hội XIII của Đảng xác định một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”. Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng được thực hiện thông qua nhiều hình thức: Nhà nước làm chủ đầu tư; tổ chức, tư nhân làm chủ đầu tư; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư;… hình thức hợp tác công tư.
Hợp tác công tư được hiểu là giác độ chung nhất là hoạt động phối hợp giữa nhà nước và tư nhân trong quá trình cùng cung cấp một hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Public Private Parnership - PPP) là phương thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp tác có thời hạn giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân thông qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng dự án PPP.
Hợp đồng dự án PPP là thoả thuận bằng văn bản giữa cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP về việc Nhà nước nhượng quyền cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP thực hiện dự án PPP bao gồm các loại hợp đồng: Nhóm hợp đồng dự án áp dụng cơ chế thu phí trực tiếp từ người sử dụng hoặc tổ chức bao tiêu sản phẩm, dịch vụ công. Nhóm hợp đồng dự án áp dụng cơ chế Nhà nước thanh toán trên cơ sở chất lượng sản phẩm, dịch vụ công. Hợp đồng hỗn hợp là hợp đồng kết hợp giữa 02 loại hợp đồng trên.
Nhóm hợp đồng dự án áp dụng cơ chế thu phí trực tiếp từ người sử dụng hoặc tổ chức bao tiêu sản phẩm, dịch vụ công: Hợp đồng BOT (Build – Operate – Transfer: Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để xây dựng, kinh doanh, vận hành công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng trong thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chuyển giao công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó cho Nhà nước. Hợp đồng BTO (Build – Transfer – Operate: Xây dựng – Chuyển giao - Kinh doanh) là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng; sau khi hoàn thành xây dựng, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chuyển giao công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng cho Nhà nước và được quyền kinh doanh, vận hành công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó trong thời hạn nhất định. Hợp đồng BOO (Build – Own – Operate: Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh) là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để xây dựng, sở hữu, kinh doanh, vận hành công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng trong thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng O&M (Operate – Manage: Kinh doanh – Quản lý) là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để kinh doanh, quản lý một phần hoặc toàn bộ công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng sẵn có trong thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chấm dứt hợp đồng.
Nhóm hợp đồng dự án áp dụng cơ chế Nhà nước thanh toán trên cơ sở chất lượng sản phẩm, dịch vụ công, bao gồm: Hợp đồng BTL (Build – Transfer – Lease: Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ) là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và chuyển giao cho Nhà nước sau khi hoàn thành; được quyền cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở vận hành, khai thác công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó trong thời hạn nhất định; cơ quan ký kết hợp đồng thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP. Hợp đồng BLT (Build – Lease – Transfer: Xây dựng – Thuê dịch vụ - Chuyển giao) là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở vận hành, khai thác công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó trong thời hạn nhất định; cơ quan ký kết hợp đồng thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chuyển giao công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó cho Nhà nước.
Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 03/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Lạt, xác định dự án cao tốc Dầu Giây – Liên Khương thuộc danh mục các dự án phát triển hạ tầng giao thông quan trọng vận chuyển giữa Đà Lạt – Lâm Đồng với các tỉnh phía Nam. Dự án cao tốc Dầu Giây – Liên Khương là dự án theo hình thức hợp tác công tư (PPP), được thực hiện theo hợp đồng BOT (Build – Operate – Transfer: Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao). Cao tốc Dầu Dây – Liên Khương có tổng chiều dài 200,3 km, được chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 từ Dầu Giây – Tân Phú có chiều dài 60km; giai đoạn 2 từ Tân Phú – Bảo Lộc có chiều dài 67km; giai đoạn 3 từ Bảo Lộc – Liên Khương có chiều dài 73km. Tổng kinh phí đầu tư toàn dự án 65 ngàn tỷ đồng. Hệ thống cao tốc toàn tuyến có 4 làn xe theo tiêu chuẩn cao tốc hạng A, vận tốc thiết kế lên đến 100km/giờ.
Theo thông báo số 24/TB-VPCP ngày 04/02/2021 của Văn phòng Chính phủ đã thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý giao Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Tân Phú – Bảo Lộc giai đoạn 2021 – 2025 theo hình thức đối tác công tư (PPP). Đoạn cao tốc Tân Phú – Bảo Lộc với quy mô 4 làn xe, nền đường rộng 17m, mặt đường rộng 14m, với tổng mức đầu tư khoảng 18,2 ngàn tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước 47% (24% ngân sách Trung ương, 23% ngân sách địa phương tỉnh Lâm Đồng); vốn nhà đầu tư BOT 53%.
Sau khi dự án cao tốc Dầu Giây – Liên Khương hoàn thành sẽ tạo một bước đột phá trong quá trình vận chuyển hàng hoá và lưu thông vận tải từ Lâm Đồng đi các tỉnh phía Nam; tạo động lực giao lưu, phát triển kinh tế giữa 2 vùng kinh tế Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; tạo thế tam giác du lịch (Thành phố Hồ Chí Minh – Lâm Đồng – Khánh Hoà). Đường cao tốc Dầu Giây – Liên Khương là một trong bảy tuyến đường thuộc hệ thống đường cao tốc quan trọng quốc gia tại khu vực phía Nam, cùng với cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây tạo động lực phát triển, chuyển dịch kinh tế - xã hội, hoạt động giao dịch thương mại hàng hoá và dịch vụ nhanh chóng, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, … phát triển, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm an ninh, quốc phòng tỉnh Lâm Đồng và khu vực; tạo đà đưa Lâm Đồng sang bước phát triển mới, vững bước phồn vinh.
Tài liệu tham khảo:
- Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
- Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư 2020
Ths. Nguyễn Văn Phước
Khoa Nhà nước & Pháp luật
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THỜI HIỆU, THỜI HẠN XỬ LÝ KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THEO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ LUẬT VIÊN CHỨC NĂM 2019
Quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức là nội dung quan trọng của pháp luật cán bộ, công chức, viên chức. Những quy định này giúp cho việc xem xét trách nhiệm, xử lý hành vi vi phạm kỷ luật được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, tránh việc trì hoãn, kéo dài, dẫn đến xử lý không còn kịp thời, hiệu quả. Để điều chỉnh những quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với thực tiễn và đảm bảo hiệu quả quản lý công vụ, năm 2019 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019). Theo đó, quy định tại Điều 80 (luật cũ) về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16 Điều 1, quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức tại Điều 53 (luật cũ) được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 2. Bài viết này sẽ phân tích những điểm mới được quy định tại 2 điều khoản trên.
Thứ nhất, về thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức
Một là, phân định thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm kỷ luật
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010, thời hiệu xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm. Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 không quy định cố định về khoảng thời gian này mà có sự phân định về thời hiệu phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm kỷ luật. Đối với những hành vi vi phạm có mức độ nguy hiểm hơn thì thời hiệu xử lý kỷ luật sẽ kéo dài hơn. Cụ thể thời hiệu xử lý kỷ luật là: 02 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách; 05 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp quy định như trên (bao gồm các hình thức kỷ luật như: cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, buộc thôi việc – đối với công chức; cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc – đối với viên chức). Như vậy, đối với hành vi vi phạm có mức độ nguy hiểm lớn hơn, thời hiệu xử lý kỷ luật sẽ kéo dài hơn, không “cào bằng” như trước đây. Quy định như trên là hợp lý, bởi lẽ bản chất của các “hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì sẽ có thời hiệu dài, ngắn khác nhau”. Ngoài ra, trên thực tế còn có trường hợp tuy đã bị xử lý kỷ luật về Đảng (hoặc đã bị xử lý hình sự nhưng cho hưởng án treo), nhưng khi xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của Luật thì đã hết thời hiệu. Điều đó làm bỏ lọt rất nhiều hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức, viên chức mặc dù đã được phát hiện nhưng không thể xử lý kỷ luật vì không còn thời hiệu. Việc tăng thời hiệu xử lý kỷ luật đối với các hành vi có mức độ nghiêm trọng không những giúp nới rộng thời gian xem xét, xử lý hành vi vi phạm, bảo đảm loại trừ việc bỏ lọt những hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức, viên chức mà còn bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa đối với các hành vi có thể diễn ra trong tương lai, góp phần làm tăng tính hiệu quả của việc xử lý kỷ luật cũng như loại trừ sự lệch lạc, không phù hợp, thúc đẩy hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu lực, hiệu quả.
Hai là, quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật
Theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019, có 4 trường hợp sau đây sẽ không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật:
“a) Cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ;
b) Có hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ;
c) Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại;
d) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp”.
Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010, gắn trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức với vai trò gương mẫu, chuẩn mực của người đảng viên. Có thể thấy những trường hợp không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đều là những hành vi có tính chất đặc biệt nguy hiểm đối với thể chế công vụ. Quy định trên cũng rất phù hợp với quy định của pháp luật hình sự bởi lẽ đối với các hành vi vi phạm pháp luật có tính chất nghiêm trọng, luật Hình sự cũng không quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu tất cả các hành vi vi phạm đều có chung một thời hiệu xử lý thì nó sẽ dẫn đến việc những hành vi có tính chất nguy hiểm lớn hơn không thể xử lý kỷ luật vì thời hiệu không còn. Quy định trên giúp đảm bảo khi bất kỳ hành vi vi phạm kỷ luật nghiêm trọng nào xảy ra trên thực tế ở bất kỳ thời điểm nào cũng đều được xử lý mà không giới hạn thời gian. Từ đó cũng sẽ giúp việc xử lý kỷ luật đạt hiệu quả, không bỏ lọt người vi phạm. Quy định trên cũng đã thể chế hoá chủ trương của Đảng trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khoá XII về “xử lý nghiêm những người có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu” và phù hợp với quy định về xử lý, kỷ luật đảng viên vi phạm tại khoản 2 Điều 3 Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị, đó là: “Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; vi phạm về chính trị nội bộ; về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp”.
Thứ hai, về thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức
Một là, gia tăng thời hạn xử lý kỷ luật
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010, thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức là không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp, cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 04 tháng. Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng dựa vào tính chất, mức độ phức tạp của hành vi, vụ việc để xác định thời hạn xử lý nhưng kéo dài hơn so với trước. Cụ thể:
“Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 90 ngày; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày”.
Có thể thấy, thời hạn để chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức kể từ khi phát hiện hành vi theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã tăng lên thêm 30 ngày so với quy định trước đây. Điều này giúp cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có thêm thời gian để thu thập tài liệu, chứng cứ; thực hiện đúng quy trình, thủ tục góp phần đưa ra quyết định xử lý kỷ luật công minh, khách quan và toàn diện nhất, bảo đảm giá trị pháp lý và tính thuyết phục của quyết định xử lý kỷ luật cũng như tăng tính hiệu quả của hoạt động xử lý kỷ luật công vụ.
Hai là, quy định về thời gian không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật
Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đề cập thêm về thời gian không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật của cán bộ, công chức, viên chức gồm: thời gian điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự. Quy định trên là hoàn toàn phù hợp, bởi vì trong quá trình cán bộ, công chức, viên chức đang bị điều tra, truy tố, xét xử rất khó để thực hiện quy trình xử lý kỷ luật. Trong một số trường hợp, chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải đợi kết luận của cơ quan tố tụng hoặc các giấy tờ, tài liệu phục vụ việc xử lý kỷ luật đang được các cơ quan tố tụng lưu giữ để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Thời gian để cơ quan tố tụng tiến hành điều tra, truy tố, xét xử có thể kéo dài vượt qua thời hạn xử lý kỷ luật, nếu không trừ ra các khoảng thời gian này thì sẽ dẫn đến việc thời hạn xử lý kỷ luật hết và không bảo đảm được công tác xử lý kỷ luật.
Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 đã có nhiều điểm mới tiến bộ và phù hợp với thực tiễn. Những thay đổi đáng kể về thời hiệu, thời hạn xử lý cán bộ, công chức, viên chức đã mang lại những ý nghĩa nhất định không chỉ đối với Nhà nước, xã hội mà còn đến chính bản thân người cán bộ, công chức, viên chức. Điều này nhằm tạo dựng niềm tin trong xã hội khi mà các hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ công vụ luôn được xử lý một cách kịp thời, góp phần làm tăng tính hiệu quả của việc xử lý kỷ luật cũng như loại trừ sự lệch lạc, không phù hợp, góp phần bảo đảm giá trị thi hành của pháp luật trong việc xem xét, xử lý kỷ luật. Qua đó, thúc đẩy hoạt động quản lý nhà nước đạt được hiệu lực, hiệu quả như kỳ vọng.
Nguyễn Thị Khánh Linh
Khoa Nhà nước và pháp luật






