Super User
Phát huy tinh thần yêu nước trong kỷ nguyên mới từ âm hưởng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”[1].
Thực tế thì, dân tộc ta vốn có truyền thống nhân nghĩa, yêu chuộng hòa bình, khát vọng cháy bỏng là muốn có hòa bình để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhưng ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Với trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, với ý chí: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Hưởng ứng Lời hiệu triệu của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Nội cùng các địa phương trên cả nước đã anh dũng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Một lần nữa, ngọn lửa truyền thống, khí phách chống giặc hào hùng của dân tộc ta lại bừng cháy trong những ngày toàn quốc kháng chiến.
79 năm đã trôi qua, nhưng sự kiện mở đầu toàn quốc kháng chiến vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người Việt Nam và là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Lời kêu gọi toàn dân tộc đoàn kết, đứng lên chiến đấu, giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ đã để lại những bài học sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hơn hết là bài học về tinh thần yêu nước trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa đặt ra những thách thức cho sự phát triển; đặc biệt sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực của đất nước.
Đảng ta chỉ rõ những vấn đề rất cơ bản của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là: “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị – xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước vốn có của dân tộc ta, trên nền âm hưởng vang vọng của Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm”. Do đó, chúng ta cần thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp sau:
Thứ nhất, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ quan điểm muốn hòa bình và quan điểm nhất quán đó chính là đánh đổi tất cả để giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc. Đồng thời, Người cũng đã xác định rõ kẻ thù và âm mưu của kẻ thù. Qua đó xác định được nhiệm vụ cụ thể của toàn Đảng toàn dân trong bối cảnh đất nước lâm nguy.
Từ quan điểm ngoại giao đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày nay Đảng, Chính phủ ta vẫn luôn nhất quán quan điểm: “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”[2]. Một mặt, chúng ta củng cố, phát triển kinh tế, xã hội, mặt khác củng cố an ninh quốc phòng. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận; chú trọng xây dựng tiềm lực về chính trị, tinh thần, phát huy nhân tố con người là yếu tố quyết định. Trong đó, quân đội nhân dân với vai trò là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng.
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm toàn dân kháng chiến: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt thì phải đứng lên chống thực dân Pháp”. Bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích Người đã nêu bật lên được tất cả các đối tượng tham gia cách mạng trong nhiệm vụ cuộc kháng chiến.
Kế thừa tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, những quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết được tổng kết và nâng cao tầm nhận thức, thể hiện qua chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, được luật hóa bằng Hiến pháp và các luật, đã từng bước đi vào cuộc sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân trên mọi việc của đời sống xã hội. Thực hiện đoàn kết mọi tầng lớp, lực lượng trong xã hội, trên nền tảng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức,“tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”[3], cùng với đó, “tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân và Đảng, Nhà nước tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[4]. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Thứ ba, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đấu tranh có hiệu quả bệnh quan liêu, tham nhũng, củng cố lòng tin trong Nhân dân.
Hơn bao giờ hết, coi trọng tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu. Chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Với phương châm, kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng cấp bách. Đồng thời, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương trong cán bộ, đảng viên, nêu cao tinh thần nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều sống trong môi trường an toàn, an ninh và được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới.
Thứ tư, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay chịu tác động sâu sắc từ những biến động mạnh mẽ và phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên nhiều lĩnh vực. Tôn trọng hòa hiếu, gìn giữ hòa bình và đập tan mọi ý đồ xâm lăng, chia rẽ dân tộc là những đúc kết từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc và còn nguyên giá trị đối với đất nước và con người Việt Nam hôm nay. Mỗi người dân nước Việt kết thành khối vững chắc, thống nhất trong tư duy và hành động, phát huy lòng yêu nước, tính sáng tạo bằng mỗi việc làm cụ thể có lợi cho chính mình, cho cộng đồng, có ích cho đất nước.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vẫn chứa đựng những giá trị và tư tưởng mang tính thời đại dù đã 79 năm qua đi, phát huy những giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới, để có một sự nỗ lực vượt bậc, một tinh thần quật khởi, một ý chí mới “không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, tụt hậu, thua kém bạn bè” để sớm đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong muốn và để bản hùng ca Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vang mãi, nuôi dưỡng tâm hồn, bản lĩnh con người Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Đặng Liễu - XDĐ
[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 534.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 433.
[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 158
[4] ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 159.
TRAO ĐỔI MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC TẠI CÁC LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Dạy học truyền thống là các phương pháp, cách thức dạy học quen thuộc đã có từ lâu. Dạy học truyền thống ít hoặc thậm chí không có ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Phương pháp dạy học truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm, thầy cô là người trực tiếp giảng dạy kiến thức cho học sinh. Học sinh chỉ tiếp thu 1 chiều, chú ý lắng nghe, ghi chép và học thuộc lại toàn bộ kiến thức được giáo viên hướng dẫn. Phương pháp giảng dạy truyền thống có những ưu điểm mà chúng ta không thể phủ nhận. Chẳng hạn như đây là phương pháp tối ưu giúp giảng viên có thể truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn trong một khoảng thời gian ngắn; Giảng viên hoàn toàn chủ động trong giờ giảng của mình, không gặp khó khăn trở ngại đối với những vấn đề có thể nảy sinh trên lớp; Học viên tiếp thu được nhiều kiến thức khi họ nhận được càng nhiều thông tin từ giảng viên; Giảng viên là người hoàn toàn chủ động quyết định nội dung bài giảng.
Tuy nhiên, trái ngược lại với các nhận định trên đây, điều mà tất cả các giảng viên dễ dàng nhận thấy khi đứng lớp đó là: nếu thuyết trình trong một khoảng thời gian dài thì hầu hết học viên đều mệt mỏi khi phải ngồi lắng nghe mà không được chủ động tham gia vào bài giảng. Mặc dù các giảng viên hoàn toàn chủ động về thời gian và nội dung giảng dạy, nhưng giảng viên cũng vẫn rất mệt mỏi như học viên. Mặt khác, chỉ có mỗi giảng viên là người trình bày, nên dường như giảng viên là người chịu trách nhiệm duy nhất về thành công và chất lượng bài giảng. Điều này không thể khuyến khích học viên tích cực học tập và có tâm lý ỷ lại vào giảng viên. Trong thực tế, rất nhiều học viên không thể nhớ được hết những gì mà giảng viên trình bày và thậm chí còn nhớ rất ít. Hơn nữa, việc học viên ghi nhớ những kiến thức mà giảng viên truyền đạt trên lớp không đồng nghĩa với việc học viên hiểu và có thể vận dụng được trong thực tế. Bên cạnh đó, vì học viên không có cơ hội để chia sẻ, đóng góp những kiến thức và kinh nghiệm của mình nên giảng viên đôi khi sẽ trình bày lại những kiến thức mà học viên đã biết rồi hoặc không cần thiết. Ngoài ra, giảng viên không thể thu nhận được ý kiến phản hồi từ người học nên họ cũng không thể biết được những nội dung nào mà học viên đã hiểu, chưa hiểu và những nội dung nào cần thiết phải điều chỉnh lại.
Giảng dạy theo phương pháp tích cực thực chất là tiếp thu mọi tinh túy của phương pháp giảng dạy truyền thống, đồng thời tích cực hóa việc giảng dạy và nhất là việc học tập của người học lên mức tối đa.
Phương pháp này ra đời và được áp dụng rộng rãi dựa trên cơ sở phát triển của khoa học công nghệ trong thời gian gần đây, trái ngược với nó là khả năng không thể dạy hết cho người học mọi điều. Sự chêch lệch giữa kiến thức thực tế và kiến thức thu được từ nhà trường. Thực trạng giảng dạy còn quá nặng về lý thuyết, còn quá coi trọng vai trò của người dạy, chưa sát thực và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Bên cạnh đó, sự thụ động trong học tập của người học so với vai trò truyền tải của người dạy còn cao khi mà số lượng người học trong một lớp ngày càng tăng. Ngoài ra những hạn chế về phương thức đánh giá người học, việc đánh giá còn quá nặng về kiểm tra khả năng học thuộc. Bởi vậy phương pháp dạy học tích cực đang được ứng dụng rộng rãi tại nhiều trường học ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và học tập nhờ thúc đẩy sự sáng tạo, tính chủ động, sự tích cực… của người học. Phương pháp dạy học dựa trên việc giải quyết vấn đề xuất phát từ tình huống thực tế của cuộc sống, thực tế nghề nghiệp được xây dựng dựa trên những yêu cầu sau:
Một là, phải có một tình huống cụ thể cho phép ta đặt ra được một vấn đề. Các nguồn lực (trợ giảng, người hướng dẫn, tài liệu, cơ sở dữ liệu….) đều được giới thiệu tới người học và sẵn sàng phục vụ người học.
Hai là, các hoạt động phải được người học triển khai như đặt vấn đề, quan sát, phân tích, nghiên cứu, đánh giá, tư duy,…
Ba là, kiến thức cần được người học tổng hợp trong một thể thống nhất (chứ không mang tính liệt kê), điều đó cũng có nghĩa là việc giải quyết vấn đề dựa trên cách nhìn nhận đa dạng và chứng tỏ được mối quan hệ giữa các kiến thức cần huy động. Các hình thức đánh giá phải đa dạng cho phép chúng ta có thể điều chỉnh và kiểm tra quá trình sao cho không chệch mục tiêu đã đề ra.
Học viên các lớp trung cấp Lý luận chính trị hầu hết có nhiều kinh nghiệm thực tiễn được tích lũy trong quá trình công tác tại địa phương. Những năm gần đây, trình độ không ngừng được nâng cao, đa phần đạt trình độ đại học thậm chí cao học. Cơ sở vật chất của nhà trường cũng ngày một hoàn thiện, là những yếu tố cơ bản giúp giảng viên dễ dàng sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực. Để vận dụng tốt phương pháp giảng dạy tích cực tại các lớp trung cấp Lý luận chính trị, theo tôi cần đáp ứng một số nguyên tắc cơ bản sau:
Đối với giảng viên, nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực đó là lấy học viên làm trung tâm. Điều này làm cho giảng viên không còn chủ động tuyệt đối như khi sử dụng phương pháp truyền thống nữa. Bởi vậy, yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên là phải chuẩn bị thật kỹ nội dung bài học, tham khảo nhiều tài liệu liên quan. Có “kịch bản” chi tiết để dẫn dắt bài giảng, tránh những vấn đề tranh luận lan man, lạc đề, không đi vào trọng tâm, nhất là khi áp dụng phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp hỏi chuyên gia. Vì tính chất, nội dung bài giảng ở các lớp trung cấp Lý luận chính trị cơ bản mang tính khoa học hàn lâm hoặc trích dẫn từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nên khi áp dụng phương pháp trực quan trong phương pháp giảng dạy tích cực, cần tránh những hình ảnh giản đơn, làm tầm thường hóa bài giảng. Để việc đọc tài liệu của học viên có hiệu quả, giảng viên nên đưa ra trước các câu hỏi, yêu cầu học viên nghiên cứu tài liệu để trả lời những câu hỏi đó. Việc làm này sẽ giúp học viên nghiên cứu một cách trọng tâm, đúng mục tiêu của bài học. Đối với môn học có bài tập thì nên yêu cầu làm các bài tập phù hợp sau từng nội dung nghiên cứu. Khi lên lớp, yêu cầu học viên trình bày lại các vấn đề đã nghiên cứu để kiểm tra mức độ hiểu bài của học viên (trả lời các câu hỏi đã cho trước). Nên khuyến khích học viên trình bày các vấn đề theo ý hiểu, tránh để học viên nói lại các vấn đề của bài học như học thuộc lòng mà không nắm được bản chất của vấn đề. Giảng viên giảng giải những vấn đề mà học viên hiểu chưa đúng và giải đáp các thắc mắc cho họ. Nếu đủ điều kiện thì tổ chức thảo luận ngắn để làm rõ các vấn đề thuộc về bản chất. Để thúc đẩy học viên hăng hái tham gia học tập (trình bày, phát biểu ý kiến, sửa bài tập) nên cho điểm khuyến khích (mang tính tượng trưng) đối với các học viên tích cực xây dựng bài. Ngược lại, cũng cần cho điểm phạt nếu học viên không chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Có vậy mới tích cực hóa học viên trong quá trình học.
Khi áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, người học sẽ được rèn luyện kỹ năng này một cách thường xuyên từ đó sức mạnh của làm việc tập thể sẽ được phát huy và các khó khăn cần khắc phục. Nhiều hoạt động sẽ diễn ra hơn khi tổ chức dạy học tích cực. Điều này đồng nghĩa với tăng mức độ tương tác, lớp học sẽ sôi động và đầy hứng khởi. Sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực mục đích nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của người học, cũng có nghĩa học viên là trung tâm của bài học chứ không phải giảng viên. Để buổi học thành công, yêu cầu bắt buộc đối với học viên, theo tôi đó là: Phải đọc trước bài học và các tài liệu tham khảo liên quan đến bài học; Chủ động soạn trước các câu hỏi và bài tập tình huống mà giảng viên đưa ra từ trước; Thông qua quá trình chuẩn bị, học viên phải tìm ra các vấn đề mới đồng thời tập thói quen thuyết trình trước đám đông để trao đổi với các thành viên trong nhóm.
Thực giảng trên lớp còn căn cứ vào nhiều yếu tố như: trình độ học viên, độ tuổi, nghề nghiệp công tác, đặc thù bộ môn… Việc chủ động, sáng tạo trong từng tình huống sư phạm cụ thể chính là luôn là chìa khóa vạn năng giúp giảng viên hoàn thành tốt một bài giảng sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực./.
ThS. Phạm Văn Dũng
Giảng viên Khoa: Lý luận cơ sở







