Thứ tư, 10/06/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI (19/5/1890 - 19/5/2026)!

Super User

Super User

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm qua của dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đại đoàn kết dân tộc đã tạo nên sức mạnh trong việc giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc xuyên suốt chiều dài lịch sử. Chân lý này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết như sau:“Muốn thắng lợi thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được. Để sống còn, loài người lại phải sản xuất mới có ăn, có mặc. Sản xuất cũng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội. Chỉ riêng lẻ cá nhân cũng không sản xuất được. Thời đại chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”.

Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng có ý nghĩa chiến lược cơ bản, nhất quán và xuyên suốt, là vấn đề sống còn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người thường xuyên nhắc nhở: “Phải tăng cường đoàn kết dân tộc. Đây là một công tác rất quan trọng, có nội dung mới và rộng hơn. Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số”.

Trải qua hơn 95 năm thực hiện xuyên suốt và nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc, nhất là 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình, yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng. Trong tiến trình ấy, trên tinh thần “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX xác định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam ... thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số…chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. Nghị quyết Đại hội XII đã xây dựng quan điểm: Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung... Chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc

Tỉnh Lâm Đồng được sắp xếp trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng cũ (tại Nghị quyết số 202/2025/QH15, ngày 16/6/2025 của Quốc Hội khóa XV). Sau khi sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 24.233,07 km2 với 124 xã, phường, đặc khu, quy mô dân số là 3.872.999 người, với 49/54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có hơn 683.000 người là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh; có 312 cơ sở tín ngưỡng hợp pháp (10 cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh), 24 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận với khoảng 1.571.000 tín đồ (chiếm khoảng 40,57% dân số toàn tỉnh), 3.500 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.284 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo. Điều này đã tạo nên bức tranh văn hóa, xã hội đa sắc màu, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng xác định, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc phải luôn được xem là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân. Sau giải phóng cho đến nay, phát huy truyền thống “đoàn kết Kinh - Thượng”, Đảng bộ tỉnh bên cạnh việc quan tâm, làm tốt công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; đẩy mạnh cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo thì công tác kết nghĩa với các buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là trọng điểm, thường xuyên. Kiên quyết ngăn chặn, không để kẻ xấu lợi dụng để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua đó, Nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn sát cánh cùng cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, giảm dần vùng đặc biệt khó khăn, xây dựng khối đại đoàn kết, đưa Lâm Đồng phát triển toàn diện.

Trong công tác giảm nghèo: Với phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng được nâng cao. Trong các chương trình, chính sách được Trung ương triển khai, Chương trình 135 mang lại hiệu quả rõ rệt về cơ sở vật chất ở các bon, buôn dân tộc thiểu số. Chương trình 135 đã hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng, phân bón vật tư nông nghiệp, máy nông cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng các mô hình giảm nghèo. Từ các chương trình hỗ trợ, cùng với truyền thống lao động cần cù, ý chí vươn lên trong lao động sản xuất, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa, tiếp cận với tiến bộ khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, vươn lên làm giàu.

Kinh tế vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Lâm Đồng rất đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực, song đã có bước chuyển mạnh từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Trên vùng cao nguyên, đồng bào dân tộc đẩy mạnh sản xuất rau, hoa, chè, cà phê, sầu riêng, bò sữa theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản. Thu nhập bình quân đầu người vùng dân tộc thiểu số đạt khoảng 45–47 triệu đồng/năm. Một số khu vực có năng suất nông nghiệp cao hoặc gắn kết với du lịch, dịch vụ thì thu nhập vượt 80 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc đã giảm nhanh, bình quân từ 2–4% mỗi năm, đến nay còn khoảng 6–7%. Các chính sách hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, vốn vay ưu đãi, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công được triển khai đồng bộ đã góp phần giúp đồng bào ổn định đời sống. Nhiều xã thuần đồng bào đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nâng cao, minh chứng cho sự chuyển biến mạnh mẽ. Cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, 100% thôn, bản, buôn có điện lưới quốc gia.

Năm 2025, Quỹ “Vì người nghèo” tỉnh đã tiếp nhận 73,014 tỷ đồng (trong đó ủng hộ xóa nhà tạm, nhà dột nát 35,56 tỷ đồng), cùng với nguồn tồn quỹ năm 2024 chuyển sang đã phân bổ 73.041 tỷ đồng (trong đó hơn 5,3 tỷ đồng để tặng 5,854 phần quà Tết cho các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; 56 tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng và sửa chữa 1.070 căn nhà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ sinh kế cho 70 hộ gia đình với tổng số tiền 700 triệu đồng; tặng quà cho 1.240 hộ nghèo nhân Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với số tiền 1,240 tỷ đồng. Kết quả đã tiếp nhận hơn 180 tỷ đồng do các tập thể, cá nhân, cơ quan, đơn vị, trung ương, các tỉnh bạn và các tập đoàn, doanh nghiệp cùng toàn thể Nhân dân ủng hộ, tham mưu chuyển hỗ trợ 34 tỷ đồng cho 15 tỉnh, thành phố và hơn 30,5 tỷ đồng cho các xã, phường bị thiệt hại do mưa lũ trên địa bàn tỉnh

Thực hiện chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số, trong những năm qua, chính sách phát triển nguồn nhân lực, tỉnh đã chú trọng công tác tạo nguồn, đưa vào quy hoạch và bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ là người DTTS. Đề án “Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2018-2025” theo Quyết định số 771/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Không được bố trí kinh phí thực hiện; trong năm 2024, Đề án được lồng ghép trong tiểu dự án 2, Dự án 5 thuộc Chương trình MTQG DTTS&MN, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh đã tổ chức 02 lớp bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho nhóm đối tượng 3 và đối tượng 4 với 82 học viên tham dự. Năm 2025, tổ chức 6 lớp bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho 1.200 học viên.

Bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc đạt được nhiều kết quả, nhất là văn hóa cồng chiêng. Nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc của đồng bào, ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc thiểu số được duy trì, tổ chức hằng năm ở khắp các địa phương đã trở thành nơi giao lưu, gặp gỡ, thắt chặt tình đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Đồng bào các dân tộc thiểu số luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn sát cánh cùng cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, chung sức, chung lòng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.

Các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nhiều trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp được bảo tồn, trở thành điểm nhấn trong đời sống tinh thần. Đặc biệt, nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại, góp phần khẳng định giá trị văn hóa độc đáo. Phong trào văn hóa – văn nghệ, thể dục – thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào.

Về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập giữ vị trí chiến lược quan trọng cả ở khu vực Tây Nguyên có địa bàn rộng, có biển, có biên giới quốc tế dài 141 km giáp Campuchia, lại có nhiều tuyến giao thông huyết mạch đi qua, khiến tình hình an ninh – quốc phòng nơi đây vừa có những thuận lợi, vừa tiềm ẩn nhiều thách thức. Tỉnh đã chú trọng củng cố lực lượng vũ trang ở cơ sở, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, có chất lượng chính trị tốt, gắn bó mật thiết với đồng bào dân tộc. Công tác huấn luyện, diễn tập, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh được tổ chức thường xuyên, nhất là cho đội ngũ cán bộ chủ chốt và người có uy tín trong cộng đồng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phong trào xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự. Kiên quyết đấu tranh, bài trừ các đối tượng cực đoan lợi dụng niềm tin tôn giáo để tuyên truyền trái pháp luật, đòi “tự trị”, “ly khai”, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Nhờ sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng công an, quân sự và các tổ chức đoàn thể, những âm mưu, hoạt động này đều được phát hiện, ngăn chặn kịp thời.

Từ thực tế trên, việc tiếp tục xác định đúng tầm quan trọng của công tác dân tộc và vấn đề đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong hiện tại cũng như lâu dài là điều hết sức cần thiết. Để thực hiện được mục tiêu đó, trong thời gian tới cần thực hiện triệt để một số vấn đề sau:

Một là, tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền về xây dựng khối đại đoàn kết, về chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân gắn với thực hiện tốt trách nhiệm của công dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí

Hai là, các cấp ủy cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các chuyên đề về nội dung “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức

Ba là, tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Bên cạnh đó, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc phải luôn được xem là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với bảo đảm công bằng xã hội, đoàn kết dân tộc, phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.

Bốn là, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong tỉnh tham gia xây dựng và hoàn thiện một số chính sách để củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, tổ chức động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hoá - xã hội; trong đó, mỗi người, mỗi gia đình cố gắng phấn đấu làm giàu cho mình, cho cộng đồng. Thông qua đó, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh có thêm điều kiện, cơ hội phát huy nội lực để khai thác tiềm năng, thế mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm phát triển bền vững, qua đó tạo động lực, thúc đẩy Lâm Đồng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

ThS. Lương Văn Quỳnh

Phó trưởng Khoa Xây dựng Đảng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 9

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 10

3. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2003

4. Báo cáo Sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Sở Dân tộc và Tôn giáo Lâm Đồng

Xã Thuận An là xã biên giới tiếp giáp với xã Bu Sara, tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia, có đường biên giới dài 60,125 km; diện tích tự nhiên 315,8km²; dân số: 5.326 hộ, 22.714 nhân khẩu, gồm 16 dân tộc anh em sinh sống, dân tộc thiếu số chính là: M’nông 744 hộ, 3.507 nhân khẩu, chiếm 13,97% tổng số hộ và 15,44% tổng số nhân khẩu; Tày 104 hộ, 339 nhân khẩu, chiếm 1,95% tổng số hộ và 1,49% tổng số nhân khẩu. Có 3 tôn giáo chính là Công giáo, Phật giáo và Tin lành với tổng số 2.587 hộ, 9.526 nhân khẩu, chiếm 48,57% tổng số hộ và 41,94% tổng số nhân khẩu. Trong đó: Công giáo: 1.277 hộ, 4.303 nhân khẩu; Phật giáo 509 hộ, 1.557 nhân khẩu; Tin lành 797 hộ, 3.650 nhân khẩu. Toàn xã có 20 thôn, bon (18 thôn, 02 bon), gồm: Thôn Đắc Lộc, Đắc Thủy, Đắc Lợi, Đắc Quang, Đắc Phúc, Đắc Xuân, Đắc Tâm, Đắc Kim, Đắc Thọ, Đắc An, Thuận Hạnh, Thuận Thành, Thuận Nam, Đức An, Đức Hòa, Thuận Hòa, Thuận Bắc, Thuận Sơn, bon Sa Pa và bon Bu Đắk. Trong đó, có 06 thôn có đường biên giới: Đắc Thủy, Đắc Kim, Đắc Thọ, Thuận Bắc, Đức An, Thuận Nam.

Thực hiện theo mô hình chính quyền hai cấp theo chủ trương của Bộ Chính trị, chính quyền xã Thuận An đã nhanh chóng thích nghi, kịp thời nắm bắt những lợi thế của địa phương cả về tự nhiên lẫn nguồn lực con người để xây dựng và từng bước hoàn thiện chính quyền theo mô hình 2 cấp. Bên cạnh đó, đây là mô hình mới hoàn toàn nên trong quá trình triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức.

Trong công tác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân xã đã tổ chức công bố Nghị quyết số 1671/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Ủy ban Thuờng vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 của Hội đồng nhân dân xã Thuận An về việc thành lập Văn phòng HĐND và UBND thuộc Ủy ban nhân dân xã Thuận An; Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 về việc thành lập Phòng Văn hóa – Xã hội thuộc UBND xã Thuận An; Nghị quyết số 07/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 về việc thành lập Phòng Kinh tế thuộc UBND xã Thuận An; Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 về việc thành lập trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc UBND xã Thuận An, các Quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm và phân công công tác đối với các công chức thuộc UBND xã; tổ chức các cuộc họp để chỉ đạo, điều hành họat động của UBND xã trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của UBND tỉnh, Sở Nội vụ và các sở, ngành có liên quan. Đến nay, 100% cơ quan chuyên môn thuộc UBND xã đã được sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy; 100% cơ quan chuyên môn đã ban hành và thực hiện đúng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức. Hiện nay, UBND xã có 03 phòng chuyên môn và 01 Trung tâm Phục vụ hành chính công;  18 thôn và 02 bon; có 08 đơn vị sự nghiệp (Trung tâm phát triển cụm công nghiệp Thuận An, 7 đơn vị sự nghiệp trường học).

Công tác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền theo quy định pháp luật hiện hành trên các lĩnh vực: Trong thời gian qua, UBND xã đã chỉ đạo cho các cơ quan, đơn vị thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc người dân gieo trồng, phòng trừ sâu bệnh hại trên cây trồng, Tổng diện tích gieo trồng là 11.920 ha/12.288 ha, đạt 97% so với kế hoạch. Trong đó: Diện tích cây hàng năm là 2.382 ha/2.676 ha, đạt 89,01% so với kế hoạch; Diện tích cây lâu năm là 9.260 ha/9.609 ha, đạt 96,37% so với kế hoạch. Vụ Đông Xuân 2024-2025 trên địa bàn xã gieo trồng được 209ha/142ha, đạt 147,18%. Vụ hè thu gieo trồng được 1.273 ha/932ha KH đạt 136,58% kế hoạch.  Tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn có khoảng 72.910 con/145.000 con, đạt 50,28% so với kế hoạch. Có 3 trang trại chăn nuôi, (02 trang trại nuôi gà, 01 trang trại chăn nuôi vịt) hình thức chăn nuôi là liên kết với các Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP và JaFa, sử dụng công nghệ chuồng lạnh, chất thải trong chăn nuôi được xử lý bằng biogas và chế phẩm sinh học, do đó cơ bản đảm bảo vệ sinh an toàn dịch bệnh. Diện tích nuôi trồng thủy sản: 75,2 ha/87 ha, đạt: 86,43% so với kế hoạch. Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân xã đã phối hợp với các ban, ngành trên địa bàn xã thực hiện tuyên truyền công tác quản lý và bảo vệ rừng, vận động nhân dân ký cam kết bảo vệ rừng, không chặt phá rừng làm rẫy, không khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép. Từ đầu năm đến nay chưa phát hiện vụ việc vi phạm liên quan đến chặt phá rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép. Chỉ đạo các đơn vị trên địa bàn xã tăng cường công tác đảm bảo an toàn công trình thủy lợi trước mùa mưa lũ năm 2025; chủ động kiểm tra, theo dõi, nắm bắt tình hình nguồn nước, hạn hán để có các phương án xử lý cho từng khu vực, giảm thiểu thiệt hại do hạn hán xảy ra. UBND xã đã ban hành quyết định thành lập Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn xã Thuận An. Trong tháng 9 đã xảy ra 01 vụ sạt lở đất tại khu vực trục đường từ Quốc lộ 14 hướng vào Đồn Biên phòng 761 thuộc Thôn Thuận Nam xã Thuận An, UBND xã đã chỉ đạo khắc phục sau 24 tiếng đảm bảo giao thông thông suốt trên tuyến đường.

Tổng giá trị gia tăng ngành công nghiệp - xây dựng ước đạt 116,26 tỷ đạt (các sản phẩm công nghiệp chủ yếu gồm: mộc dân dụng, gia công may mặc, cơ khí, chế biến gỗ xẻ, khai thác đá, vv...)  Khai thác và phát huy tốt các tiềm năng về công nghiệp chế biến nông, lâm sản, công nghiệp nhẹ và năng lượng, từng bước trở thành ngành kinh tế động lực cho phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã theo định hướng. Trong 9 tháng đầu năm năm 2025 đã cấp được 60 giấy phép xây dựng, từ ngày 01/7/2025 đến 30/9/2025 tiếp nhận 16 hồ sơ đã giải quyết theo quy định cho các hộ gia đình. Tiếp tuc thực hiện đầu tư xây dựng 08 công trình giao thông đường xã, thôn bon được đầu tư, nâng cấp sữa chữa, cùng với việc thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần nâng cao tỷ lệ cứng hoá đường xã và đường thôn, bon.

 Thương mại và dịch vụ có bước phát triển, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng về chủng loại, chất lượng ngày càng cao hơn, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; giá mặt hàng nông sản Hồ tiêu, Cà phê cao và tương đối ổn định; giá trị gia tăng ngành thương mại và dịch vụ ước đạt 118,07 tỷ đồng. Tiếp tục hình thành các hình thức kinh doanh, dịch vụ trên nền tảng công nghệ số. Tiếp nhận và giải quyết 81 hồ sơ chứng nhận đăng ký kinh doanh trên địa bàn xã. Chỉ đạo phòng chuyên môn phối hợp với các cơ quan chức năng, các đơn vị liên quan tổ chức kiểm tra chất lượng hàng hóa, phòng chống hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại và đảm bảo ATTP trong các dịp lễ tết.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn xã ước thực hiện đến 30/9/2025 là 37,963/32,345 tỷ đồng, đạt 117,37% dự toán tỉnh giao và dự toán HĐND xã giao (không bao gồm thu chuyển nguồn, thu bổ sung từ NS cấp trên, thu kết dư ngân sách, thu HĐĐG quản lý qua NSNN). Tổng chi ngân sách xã (không bao gồm tạm chi ngân sách, không bao gồm tạm ứng vốn đầu tư XDCB năm trước chuyển sang): Ước thực hiện chi đến hết ngày 30/9/2025 là: 69,740/105,605 tỷ đồng đạt 66% dự toán tỉnh giao và dự toán HĐND xã giao.

 Để thu hút các thành phần kinh tế trên địa bàn, UBND xã đã chủ động rà soát tháo gỡ khó khăn về quy hoạch, sử dụng đất; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính. Tạo lập môi trường hành chính công khai, minh bạch, thân thiện, nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân; giảm thời gian và chi phí thực hiện các thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân ... nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai dự án trên địa bàn xã. UBND xã đã rà soát những bất cập giữa quy hoạch sử dụng đất được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2072/QĐ-UBND ngày 09/12/2022 và quy hoạch đô thị được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 661/QĐ-UBND ngày 31/5/2012, làm cơ sở lập trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế sau khi sắp xếp đơn vị hành chính. Đã giải quyết 42 bộ hồ sơ /75 hồ sơ đất đai. Trong đó: 04 hồ sơ/04 hồ sơ cấp đổi đính chính giấy chứng nhận QSDD; 01 hồ sơ/01 hồ sơ xác định lại diện tích đất ở; 12 hồ sơ/15 hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất; 01 hồ sơ/02 hồ sơ thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; 23 hồ sơ/51 hồ sơ đăng ký cấp giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu; 01 hồ sơ/02 hồ sơ hòa giải tranh chấp đất đai, hiện đang trong thời gian giải quyết.

 Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững trên địa bàn. Tổng nguồn vốn thực hiện năm 2025 là 3,3 triệu đồng (nguồn vốn sự nghiệp năm 2024 sang). Thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp nguồn vốn trên tỉnh đã thu hồi, hiện nay chưa phân bổ lại để xã triển khai thực hiện theo quy định.  Được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của địa phương trong việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay hệ thống giáo dục trên địa bàn xã được đổi mới căn bản và toàn diện, những thành tựu đạt được như:

 Quy mô trường lớp được sắp xếp phù hợp; chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ngày càng nâng cao; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn tăng. Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được quan tâm;

Ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính các cấp, nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần công khai minh bạch, cải thiện các chỉ số cải cách hành chính và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của xã; tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số trên cả 3 nội dung trọng tâm bao gồm chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đưa các loại giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất được chú trọng đã góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Trên địa bàn xã có 08 sản phẩm OCOP cùng nhiều mô hình nông nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực y tế được đầu tư, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu. Thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh xã hội, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng. Tỷ lệ tham gia BHYT bình quân đạt 89,4%.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển mạnh. Tỷ lệ hộ gia đình, thôn, bon, xã đạt chuẩn văn hóa đạt chỉ tiêu. 20/20 thôn, bon luôn giữ vững danh hiệu thôn văn hóa, 92,04% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa hàng năm. Hoạt động thể thao phát triển, tỷ lệ người dân luyện tập thường xuyên đạt khoảng 30%. Đài truyền thanh, trang thông tin điện tử xã từng bước đổi mới, kịp thời truyền tải thông tin, chủ trương, chính sách, phản ánh gương điển hình tiên tiến.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai chính quyền hai cấp tại xã Thuận An tỉnh Lâm Đồng còn tồn tại nhiều khó khăn thách thức:

 Do địa bàn rộng, số lượng hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai lớn; hồ sơ địa chính không đầy đủ, không được cập nhật, chỉnh lý; việc xây cơ sở dữ liệu đất đai chưa hoàn thành; đất đai có nguồn gốc phức tạp, người sử dụng đất trong quá trình kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận kê khai không đúng thực về nguồn gốc từ đó khó khăn trong công tác kiểm tra, thẩm định hồ sơ đất đai;      Việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính cho người dân còn bất cập do hệ thống các quy định, hướng dẫn, thông tin, phần mềm chưa đồng bộ; Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ từ đó gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức và công dân;  Việc sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức sau khi sáp nhập, hợp nhất các đơn vị hành chính gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là đối với việc luân chuyển, điều động công chức ở chính quyền địa phương cấp huyện được đưa về làm việc tại các cơ quan Đảng và ngược lại gây ảnh hưởng đến chất lượng làm việc tại chính quyền cấp xã (mới) sau khi sát nhập, cần thời gian để công chức, viên chức và người lao động tiếp cận công việc. Nguồn lực tài chính, ngân sách và cơ sở vật chất tại cấp xã còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ công chất lượng của UBND xã sau khi sắp xếp;  Trang thiết bị, máy móc phục vụ công tác hành chính (như máy vi tính, máy in, máy scan...) chưa đáp ứng được yêu cầu công việc đặc biệt là việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân. Trang thiết bị tại Trung tâm Phục vụ hành chính công còn thiếu như: máy lấy số thứ tự tự động để bố trí tại trung tâm nên cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tiếp nhận, theo dõi, tra cứu và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại trung tâm. Máy Scan nhỏ nên cũng chưa đáp ứng được nhu cầu scan hồ sơ của tổ chức, công dân đến thực hiện thủ tục hành chính tại trung tâm./.

Ths Phạm Văn Dũng

Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001748910
Đang truy cập : 24