Thứ ba, 19/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI (19/5/1890 - 19/5/2026)!

Super User

Super User

Tóm tắt: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tác động trực tiếp đến mỗi cá nhân; doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị, để định vị chỗ đứng trong dòng chảy của xu thế; Lâm Đồng hiện nay, bên cạnh những đột phá, nhiệm vụ và giải pháp đặt ra cho cả nhiệm kỳ 2025-2030. Năm 2026 được xác định là năm bản lề cho cả nhiệm kỳ, vì vậy nền tảng để thực hiện các mục tiêu năm 2026 cần phát huy tối ưu Nghị quyết 57 của Bộ chính trị.

Từ khóa: Lâm Đồng; Nghị quyết 57; mục tiêu 2026.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vừa mở ra nhiều cơ hội phát triển, vừa đặt ra không ít thách thức đối với các quốc gia và địa phương. Trong bối cảnh đó, Việt Nam chủ động tham gia và thích ứng với xu thế mới, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, thực tiễn cũng cho thấy vẫn còn những hạn chế về nhận thức, thể chế và năng lực tổ chức thực hiện, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá hơn.

Đối với tỉnh Lâm Đồng, năm 2025 ghi nhận nhiều kết quả nổi bật, trong đó thu ngân sách nhà nước tăng 17% so với dự toán Trung ương giao. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và dự báo các yếu tố tác động, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa I) đã thống nhất thông qua 12 chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng, giữ vai trò nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới

Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Lâm Đồng đã đạt được nhiều kết quả bước đầu quan trọng. Tỉnh đã hoàn thành 154/154 nhiệm vụ được giao (đạt 100%), là một trong 14 địa phương đạt trạng thái “Xanh” trên Hệ thống giám sát quốc gia. Hơn 20.000 lượt cán bộ, đảng viên được tham gia học tập Nghị quyết; 100% xã, phường được trang bị hệ thống họp trực tuyến và đầy đủ thiết bị tại bộ phận một cửa. Tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt gần 80%, thanh toán trực tuyến đạt 93%; số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt gần 90%; tỷ lệ khai thác, sử dụng lại dữ liệu số hóa đạt 82%. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn toàn tỉnh đạt trên 99%; các chỉ số PAR Index, SIPAS, PAPI tiếp tục được cải thiện, phản ánh mức độ hài lòng ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp.

Đặc biệt, 100% dịch vụ công thiết yếu được cung cấp trên môi trường điện tử; biểu mẫu điện tử được cắt giảm khoảng 20% thông tin phải khai báo nhờ tái sử dụng dữ liệu dân cư. Hoàn thành cấp căn cước cho 100% công dân đủ điều kiện; đẩy mạnh sử dụng VNeID, thanh toán không dùng tiền mặt; làm sạch, làm giàu dữ liệu trong các lĩnh vực y tế, bảo hiểm xã hội, tư pháp, hộ tịch và an sinh xã hội. Hệ thống hội nghị trực tuyến kết nối đến 124 điểm cầu cấp xã; 2.225 thủ tục hành chính được công khai, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia. Lâm Đồng hiện xếp thứ 4/34 toàn quốc về chất lượng dịch vụ công.

Những kết quả trên khẳng định hướng đi đúng đắn của tỉnh trong việc lấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, cải cách hành chính và phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức đang đặt ra. Lâm Đồng là địa phương có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, địa hình đa dạng, nhiều thành phần dân tộc; trình độ phát triển giữa các vùng, các khu vực chưa đồng đều; nền tảng hạ tầng và nguồn lực trước sáp nhập còn chênh lệch. Những yếu tố này tạo ra không ít trở ngại trong việc đồng bộ hóa, nhân rộng các thành tựu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trên toàn tỉnh.

Để hiện thực hóa 12 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, bên cạnh các nhóm nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định, Lâm Đồng cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 57 một cách quyết liệt, thực chất và đồng bộ, hiệu quả hơn.

Thứ nhất, cần tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Tỉnh ủy đối với các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc nghiên cứu, quán triệt và chủ động ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trọng tâm là nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, đầu tư cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Cần xây dựng lộ trình phù hợp, bước đi rõ ràng, cách làm hiệu quả ở mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức; đồng thời phát huy vai trò lãnh đạo xuyên suốt của Tỉnh ủy trước, trong và sau quá trình triển khai Nghị quyết 57. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra các sản phẩm “đổi mới, sáng tạo” thiết thực, qua đó tăng cường sự kết nối chặt chẽ, kịp thời và hiệu quả giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và tinh thần làm chủ của Nhân dân.

Thứ ba, phát huy vai trò trung tâm của Nhân dân và doanh nghiệp trong thực hiện Nghị quyết 57. Người dân và doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia kiến tạo, phát triển, kết nối và nhân rộng các thành tựu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Do đó, cần tạo lập môi trường thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị phát triển, đúng với quan điểm: Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Thứ tư, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông trong triển khai Nghị quyết 57, từ đầu tư hạ tầng công nghệ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đến nâng cao ý thức trách nhiệm, tuân thủ pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Qua đó, góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo giá trị kinh tế, góp phần đạt tăng trưởng hai con số, nâng cao thu nhập cho người dân và tạo nguồn lực cho phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu tất yếu, là con đường ngắn nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh và rút ngắn khoảng cách phát triển. Đối với Lâm Đồng, triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ là thực hiện chủ trương lớn của Đảng, mà còn là cơ hội quan trọng để bứt phá, khơi thông nguồn lực, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Với tiềm lực về con người, vị trí địa lý, bản sắc văn hóa - xã hội cùng sự lãnh đạo, quản lý ngày càng hiệu lực, hiệu quả, và sự đồng thuận của toàn hệ thống chính trị, chắc chắn tỉnh Lâm Đồng sẽ hiện thực hóa 12 chỉ tiêu của năm 2026, tạo đà vững chắc cho sự phát triển nhanh - bền vững./.

Ths.Trần Thị Thuỳ

GV Khoa Xây dựng Đảng

 


Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương số 57 - NQ/TW, ngày 22/12/2024: Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Tỉnh ủy Lâm Đồng số 03-NQ/TU, ngày 5 tháng 12 năm 2025: Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khóa I) về nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị năm 2026.

3. https://baolamdong.vn/lam-dong-thuc-day-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-391690.html

Tóm tắt:

Văn hóa nông thôn là điểm hội tụ, một bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc. Do đó, xây dựng đời sống văn hóa nông thôn luôn giữ một vị trí quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Phát triển văn hóa ở nông thôn là quan tâm đến phát triển văn hóa từ gốc, là tạo ra những giá trị mới của nông thôn, tạo động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp và xã hội nông thôn mới.

Từ khoá: văn hoá, văn hoá nông thôn, tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia phát triển từ nền nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ lớn trong xã hội, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Chất lượng đời sống văn hóa ở nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, lối sống và trình độ dân trí của đại bộ phận Nhân dân. Ở dây, các phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống làng xã, tinh thần đoàn kết cộng đồng… được hình thành và bảo tồn cùng với đó, trước yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới, đòi hỏi phải hình thành nếp sống văn minh, nâng cao dân trí, xây dựng con người nông thôn mới có tri thức, ý thức cộng đồng và lối sống tiến bộ. Vì vậy, việc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn chính là xây dựng nền tảng văn hóa cho bộ phận lớn của xã hội, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” (1).

Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định, “Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” (2) .

Khẳng định, văn hoá Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, “Văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng” (3), do đó việc xây dựng đời sống văn hóa nói chung, đời sống văn hóa ở nông thôn nói riêng nhằm tạo dựng, cung cấp những giá trị văn hóa tiến bộ, văn minh để phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn

Một là, xây dựng lối sống mới, nếp sống mới

Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn còn phải tiến hành xây dựng lối sống mới, nếp sống mới, được biểu hiện ở việc sửa đổi 5 khía cạnh là cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại và cách làm việc, “Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, loè loẹt. Cách làm việc, phải siêng năng, có ngăn nắp, có tinh thần phụ trách, đã làm việc gì, thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn. Chớ làm dối. Cách cư xử, đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ” (4). Đồng thời, Người nghiêm khắc phê bình các hiện tượng tổ chức ăn uống xa xỉ linh đình, gây lãng phí, tốn kém; phê phán các tệ nạn cờ bạc, uống rượu say, trọng nam khinh nữ, bạo lực trong gia đình...

Cùng với đó, Hồ Chí Minh phát động phong trào toàn dân luyện tập thể dục để có sức khỏe tốt vừa nâng cao chất lượng cuộc sống, Người nêu rõ: “Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dần mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ” (5). Muốn bảo vệ sức khỏe tốt, cùng với việc luyện tập thể dục thì phải giữ gìn vệ sinh trong ăn, mặc, ở, phòng trừ bệnh tật, “Bây giờ mình phải đổi mới nông thôn. Nông thôn mình phải quang đãng sạch sẽ” (6). Theo đó, “Phải tuyên truyền một cách thiết thực và rộng khắp trong nhân dân, gầy một phong trào thể dục vệ sinh, chú trọng củng cố và phát triển thêm các trạm y tế và nơi đỡ đẻ ở xã, làm cho đồng bào hiểu rõ: Phải giữ gìn vệ sinh, ăn sạch, uống sạch, mặc sạch, ở sạch, thì sức mới khỏe; sức càng khỏe thì lao động sản xuất càng tốt” (7).

Trong lao động, sản xuất, Hồ Chí Minh chủ trương vận động nhân dân sản xuất theo phương thức mới là cùng hợp tác với nhau, “Không có con đường nào khác, chỉ có vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã, nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất..góp phần quan trọng xây dựng công nghiệp nước nhà” 8), Người đề ra nhiệm vụ cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp là phải “đẩy mạnh việc giáo dục chủ nghĩa xã hội khắp nông thôn.

Hồ Chí Minh yêu cầu cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp chú ý đến nhu cầu hưởng thụ chính đáng của cư dân nông thôn: “Đồng bào nông dân làm ăn cả năm vất vả, khó nhọc, phải có lúc nghỉ ngơi, giải trí. Cần tổ chức những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao” (9).

Xây dựng lối sống mới, nếp sống mới không chỉ sửa đổi hoặc thay mới những phong tục, tập quán lạc hậu, không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại, mà còn phải trân trọng giữ gìn và phát huy các thuần phong mỹ tục: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra…Cái gì tốt thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái gì xấu, thì ta phải bỏ đi” (10).

Hai là, xây dựng đời sống văn hóa mới

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Do nhiều người nhóm lại mà thành làng. Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh. Người là gốc của làng nước. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường” (11). Vì vậy, muốn xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn, cẩn phải chú trọng xây dựng đời sống văn hóa mới trong mỗi gia đình, trong mỗi làng và mỗi cơ quan, công sở.

Trong mỗi gia đình, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hoà, không thiên tư, thiên ái. Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm, phải ăn đều, tiêu sòng. Có kế hoạch, có ngăn nắp cưới hỏi, giỗ Tết nên giản đơn, tiết kiệm.Trong nhà ngoài vườn, luôn luôn sạch sẽ gọn gàng. Đối với xóm giềng, phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ. Đối với việc làng việc nước, phải hăng hái làm gương. Người trong nhà ai cũng biết chữ. Luôn luôn cố gắng, làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng”(12).

Trong một làng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Trong một làng, có nhà giàu, nhà vừa, nhà nghèo; có người tốt, người vừa, người kém; …Công việc làm ăn thì có nghề làm ruộng, nghề thủ công và nghề buôn bán. Phải tìm cách giúp đỡ lẫn nhau… Về văn hoá, phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân. Về phong tục, phải cấm hẳn các tệ nạn như say rượu, cờ bạc, hút xách, mại dâm, trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng trở thành một làng “phong thuần tục mỹ”. Về vệ sinh, đường sá phải sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống phải phân biệt rõ và săn sóc cẩn thận. Những ao hồ không cần thì lấp đi, cho đỡ muỗi. Phải có nhà vệ sinh chung, hoặc nhà vệ sinh riêng từng nhà. Vừa hợp vệ sinh, lại vừa có nguồn phân bón tốt. Phải tổ chức những hội quần chúng. Nói tóm lại, phải làm cho làng mình trở thành kiểu mẫu về mọi mặt của đời sống cho các làng xung quanh” (13).

Đối với việc xây dựng đời sống văn hóa trong các cơ quan, công sở, Hồ Chí Minh xác định: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước. Những người trong các công sở đều có nhiểu hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” (14).

Ba là, xây dựng một nền giáo dục mới

Giáo dục là một nhân tố quan trọng cấu thành nên đời sống văn hóa tinh thần xã hội nhằm tạo ra những nhân cách phát triển toàn diện, vừa có tri thức văn hóa, vừa có đạo đức trong sáng, có lối sống, nếp sống văn minh, lành mạnh.

Trong bối cảnh có đến 95% dân số bị mù chữ, trong đó hầu hết là ở vùng nông thôn, Hồ Chí Minh chủ trương phát động phong trào bình dân học vụ, huy động lực lượng toàn dân, mọi giới, mọi lứa tuổi tham gia để nhanh chóng diệt trừ “giặc dốt”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ và một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, kiệm, liêm, chính, nhằm “Làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” (15).

Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở việc học tập của người dân không phải chỉ dừng lại ở khả năng biết đọc, biết viết. Người chỉ ra rằng, sau khi đã xóa được nạn mù chữ, người dân phải tiếp tục học tập nâng cao hơn nữa trình độ, kiến thức bản thân, “Về đời sống văn hóa thì xóa nạn mù chữ, thực hiện bổ túc văn hóa, rồi học lên nữa. Xã viên ít nhất phải học lớp 3, lớp Cán bộ và thanh niên ít nhẫt phải học lớp 5, lớp 6. Bà con cần cố gắng học văn hóa. Vì có văn hóa thì mới quản lý hợp tác xã được tốt” (16). Có thể khẳng định, giáo dục là một nhân tố quan trọng cấu thành nên đời sống văn hóa tinh thần xã hội nhằm tạo ra những nhân cách phát triển toàn diện, vừa có tri thức văn hóa, vừa có đạo đức trong sáng, có lối sống, nếp sống văn minh, lành mạnh.

Bốn là, xây dựng các thiết chế văn hóa mới

Ngay từ khi cách mạng còn chưa thành công, Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến việc xây dựng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, trong đó có vai trò của việc xây dựng các thiết chế văn hóa mới. Bởi vậy, khi sáng lập ra Mặt trận Việt Minh, Hổ Chí Minh xác định một trong các điểm trong Chương trình Việt Minh là: “Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân” (17). Đặc biệt, theo Hồ Chí Minh việc xây dựng các thiết chế văn hóa mới càng phải được chú trọng ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Bởi lẽ đó là những nơi đời sống vật chất và văn hóa tinh thẩn còn nhiều khó khăn, hạn chế, “Phải thấy rằng nói chung văn hóa của ta còn loanh quanh trong thành phố, chỗ dễ ăn, chứ chưa đến chỗ đổng bào Mèo, đồng bào Mán” (18).

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn được Đảng và Nhà nước thể hiện thông qua nhiều chủ trương, chính sách và phong trào thực tiễn nhằm xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân, trong đó chú trọng xây dựng con người mới và lối sống văn hóa ở nông thôn, giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, cần kiệm, trung thực, trách nhiệm trong Nhân dân. Phát động các phong trào như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Gia đình văn hóa”, “Làng, thôn, bản văn hóa” được triển khai rộng khắp nhằm hình thành nếp sống văn minh trong cộng đồng. Triển khai “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, trong đó tiêu chí văn hoá là một nội dung quan trọng. Việc xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, thư viện, khu thể thao, điểm sinh hoạt cộng đồng… góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân nông thôn. Bảo tồn các di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục tốt đẹp của làng xã; đồng thời loại bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

Khẳng định, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn vẫn là nội dung quan trọng và để lại bài học kinh nghiệm sâu sắc cần được kế thừa, phát triển trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, văn hóa mới hiện nay góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

ThS.  Nguyễn Thị Cẩm Trang

Giảng viên khoa Xây dựng Đảng


* Tài liệu trích dẫn

1, Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026-2030, H.2026.

2, Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam

3, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.12, tr. 470.

4, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 117.

5, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.4, tr.241.

6, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.255.

7, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.82.

8, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.12, tr. 262.

9, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.218.

10, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 116-117

11, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 116-117.

12, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 118-119.

13, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr.112.

14, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.4,  tr.7.

15, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.218.

16, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.3, tr.632.

17, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.11, tr.558.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001724360
Đang truy cập : 5