Thứ ba, 19/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI (19/5/1890 - 19/5/2026)!

Super User

Super User

Tóm tắt: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc(1). Mục tiêu và cũng là đích đến mà Đảng, Nhà nước ta hướng tới không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trách nhiệm của chúng ta trong giai đoạn hiện nay phải cùng nhau “đồng tình, đồng sức, đồng lòng…”(2) để cùng với Đảng, Nhà nước hiện thực hóa những mục tiêu đã đề ra đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Từ khóa: Phát triển; yêu cầu; thực tiễn.

1. Cơ sở hình thành nhận thức từ yêu cầu thực tiễn và quá trình lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trong lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin luôn khẳng định vai trò tiêu chuẩn chân lý của thực tiễn và thấy được mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: “Thực tiễn - đó là quá trình biện chứng mà trong đó hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần được hòa quyện làm một, vật chất được phản ánh vào trong tinh thần, còn tinh thần thì được hiện thực hóa trong sự biến đổi của thế giới vật chất. Và lý luận càng thích ứng với thực tiễn bao nhiêu thì hoạt động cải tạo của con người càng có hiệu quả bấy nhiêu”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng nhằm nâng cao năng xuất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân,.., nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng xuất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất,…”(4).

Kể từ khi Đảng ta được thành lập và lãnh đạo cách mạng Việt Nam; công tác phát triển khoa học - công nghệ luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Đặc biệt từ thời kỳ đổi mới đến nay Đảng ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Vì vậy Đảng đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo trong từng giai đoạn, cụ thể: Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 20/4/1981, của Bộ Chính trị về “Chính sách khoa học và kỹ thuật”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991, của Bộ Chính trị về “Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”; Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24/12/1996, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Định hướng chiến lược phát triển  khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1/11/2012, của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019, của Bộ Chính trị “về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; Hiến pháp năm 2013 khẳng định phát triển khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; có thể khẳng định khoa học - công nghệ luôn giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Gần đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57 ra đời như một điểm tựa về định hướng để chúng ta có cách nhìn khách quan, cụ thể và quyết tâm hành động thực sự vì lợi ích quốc gia, dân tộc và vì hạnh phúc của Nhân dân. Với quan điểm chỉ đạo cụ thể, các chỉ tiêu xác định rõ ràng, tầm nhìn chiến lực cùng với nhiệm vụ, giải pháp đã được định hướng, khẳng định sự thay đổi trong nhận thức, tư duy lãnh đạo của Đảng ta: Nhìn thẳng vào thực tiễn; hành động vì thực tiễn.

Trong thời gian qua, mặc dù được xác định là quốc sách hàng đầu, nhưng trên thực tế “tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức”(5). Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên có yếu tố khách quan và chủ quan, tuy nhiên xét cho cùng do chúng ta quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt. Có những mục tiêu chúng ta đặt ra vì sự tiến bộ của xã hội những lại chưa bắt đầu từ yêu cầu của thực tiễn.

Vì vậy, Đại Hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạp và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới”(6). Với những quan điểm được Đảng đưa ra trên cơ sở “Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy …phải hành động quyết liệt, đột phá, hiệu quả…”(7) để chúng ta thực sự là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh - bền vững dựa trên nền tảng làm chủ khoa học, công nghệ, đổi mới sảng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Yêu cầu đặt ra từ  thực tiễn trong phát triển khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, xuất phát từ thực yêu cầu tiễn đối với cơ quan lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “…phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Có như vậy nước mới giàu, dân mới mạnh và đời sống của nhân dân mới được cải thiện về mọi mặt”(8). Từ khoa học, kỹ thuật của giai đoạn trước đến khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay, xét đến cùng tất cả mục tiêu là để phụ vụ sản xuất, nâng cao năng suất lao động và tạo ra giá trị để định vị thương hiệu quốc gia. Vì vậy, yêu cầu thực tiễn đặt ra trong giai đoạn hiện nay cần khơi thông mọi nguồn lực trong đó “thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn””(9), để “tạo động lực phát triển mới”(10)  trong đời sống của người dân, doanh nghiệp và hoạt động xã hôi, đây là nhu cầu thực tế đang đòi hỏi bức thiết. Việt Nam hiện này, có 100 triệu người, với trên 53 triệu người trong độ tuổi lao động(11). Chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47% (12). Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn thiện nay “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đạt trên 50%”(13).

Vì vậy, yêu cầu cả hệ thống chính trị vào cuộc để: “Phát triển công dân số, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số(14). Đặc biệt chúng ta tiến hành“cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(15), đòi hỏi thực tiễn trong hệ thống chính trị, phải “Đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hoá và dựa trên dữ liệu; tăng cường giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ Nhân dân”(16). Đây là những đòi hỏi  tất yếu từ thực tiễn đỏi hỏi hệ thống chính trị “không thể chậm trễ hơn nữa” trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội. Để hoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội, cần xuất phát từ yêu cầu của đời sống xã hội, trong đó “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, có từng bước vững chắc, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh..”(17). Tăng cường tuyên truyền, gắn người thật việc thật, lợi ích thật để người dân, doanh nghiệp và xã hội để chuyển từ tâm thế “thụ động” sang tư thế “chủ động”; vì vậy “phải thiết thực, phải chính xác, phải làm sao cho quần chúng hiểu được và làm được”(18). Đồng thời xác định lộ trình và thời gian để người dân, doanh nghiệp, nhu cầu xã hội được chuẩn bị về sự hiểu biết pháp luật, lợi ích đồng bộ để  tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với những hiệu quả thiết thực mang tính kết nối vào chuỗi giá trị. Trong giai đoạn hiện nay mỗi một người dân, một doanh nghiệp, một hoạt động xã hội là một “tế bào”, “mắt xích” nhằm xây dựng hệ thống mạng lưới khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đồng bộ. Vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: “Muốn đột phá về công nghệ phải bắt đầu từ con người và cơ chế. Không thể chủ quan, duy ý chí. Phải có cơ chế trọng dụng nhân tài; cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm; …cơ chế đặt hàng khoa học gắn với yêu cầu phát triển. Khoa học, công nghệ phải đi vào đời sống, phục vụ người dân, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”(19).

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, không phải là sự gò bó bằng “hành chính hóa” và chỉ bằng hình thức bền ngoài, mà phải cần phân định xuất phát từ nhu cầu đời sống thực tiễn để tạo ra giá trị vững chắc. Trong đó: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”(20).

3. Giải pháp để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đi vào thực tiễn đời sống của xã hội

Thứ nhất, Đảng ta đã xác định: “Khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; … khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao”(21). Mục tiêu đưa đất nước Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Sức đóng góp tạo ra năng suất lao động có hàm lượng công nghệ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và bảo vệ môi trường phải đồng bộ từng người dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và sự thay đổi của xã hội.

Thứ hai, Chủ động, tích cực tiếp cận nhanh và khai thác có hiệu quả cơ hội và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, khẳng định chủ quyền ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Để tránh không rơi vào tư duy “rập khuôn”; “sân sau”; “lệ thuộc” của các nước có nền công nghiệp pháp triển. Khắc phục tình trạng "không quản được thì cấm"(22).

Thứ ba, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bên cạnh những giá trị lớn tạo ra “thương hiệu quốc gia”; “định vị sức mạnh mềm của trí tuệ dân tộc”; giá trị hiện hữu để được thế giới ghi nhận; tạo ra cơ sỡ vững chắc để “kết nối một chạm”, thì những giá trị là những giá trị hữu ích hằng ngày, đó là những cải tiến trong lao động, sản xuất, trong cách tiếp cận thông tin, cách mỗi người thụ hưởng những giá trị mà ở đó chính con người là chủ thể để tham gia vào các quá trình và nâng cao giá trị của cuộc sống, “góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7”(23).

4. Kết luận: Sức lao động, khả năng sáng tạo con người là nguồn lực trực tiếp tạo nên sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong giai đoạn hiện nay, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, của mỗi cá nhân, doanh nghiệp đang có những sự thay đổi và đang dần dịch chuyển với một xu thế mới, khí thế mới, tinh thần mới; từ cách thức làm việc tạo ra giá trị vật chất, tinh thần cho đến cách thức thụ hưởng giá trị vật chất, văn hóa tinh thần đều có sự thay đổi cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của thế giới. Điều kiện để chúng ta tham gia - thụ hưởng - cống hiến sẽ đóng góp vào giá trị chung của cộng đồng, xã hội; mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng trên cơ sở định vị được giá trị của những thành tựu trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trước yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội./.

ThS. Trần Thị Thùy

Giảng viên Khoa xây dựng Đảng


Tài liệu tham khảo

(1),(5),(16),(20),(22),,(23). Ban Chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị: Nghị quyết Số: 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

(2). Lịch sử nước ta, Nguyễn Ái Quốc sáng tác tháng 2- 1942.

(3). Nguyễn Thế Nghĩa (Chủ biên): Những nguyên lý triết học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - năm 2014, tr.332.

(4),(8); (17); (18) Hồ Chí Minh toàn tập (2011) Tập 14, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.97; tr.96; tr.97.
 (6),(7); (9); (10); (12); (13); (14); (15); (19); (21). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tr.31; tr.14; tr.28; tr.47; tr.84; tr.106; tr.60; tr.32; tr.104

(11). Cơ quan thống kê quốc gia, cục thống kê - bộ tài chính: Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025.

Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là một dấu mốc lớn trong quá trình phát triển của đất nước. Đại hội diễn ra trong thời điểm công cuộc đổi mới trải qua 40 năm đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tư duy, nhận thức của Đảng về những vấn đề của đất nước ngày càng đầy đủ, sâu sắc, toàn diện hơn, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường - được xem là một trong những trụ cột của sự phát triển bền vững đất nước. Bài viết nêu lên những quan điểm, định hướng mới trong văn kiện Đại hội XIV về bảo vệ môi trường, đồng thời đề xuất những giải pháp để nhanh chóng đi vào thực tiễn.

Từ khóa: Đại hội XIV, bảo vệ môi trường.

Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội XIV khẳng định: Bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên, chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu là một trong 3 trụ cột của sự phát triển bền vững đất nước. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu, lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ của Nhân dân làm mục tiêu trong chiến lược phát triển đất nước.

Việc khẳng định môi trường là một yếu tố quan trọng, là một trong 3 trụ cột của sự phát triển bền vững đất nước thể hiện bước đột phá trong tư duy, nhận thức của Đảng ta; từ chỗ xem môi trường là yếu tố bên ngoài, yếu tố cần được khắc phục sau tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn đầu thực hiện đường lối đổi mới đến chỗ xem môi trường là yếu tố trung tâm, là trụ cột của sự phát triển bền vững đất nước. Điều này phản ánh bước phát triển về chất trong nhận thức lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và môi trường sinh thái; thực hiện tiến bộ xã hội ngay trong từng bước, từng kế hoạch, chính sách phát triển, đồng thời phát triển phải gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo tăng trưởng xanh, bền vững.

Bên cạnh đó, bước đột phá tư duy này còn nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp bách của bối cảnh phát triển mới. Thế giới đang đứng trước những thách thức lớn về vấn đề môi trường (biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, không khí, rác thải nhựa, suy giảm tài nguyên…) làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người, buộc các quốc gia phải xem xét lại mô hình tăng trưởng truyền thống. Do đó, Đảng ta đặt bảo vệ môi trường ở vị trí trung tâm của sự phát triển không chỉ mang ý nghĩa định hướng lâu dài, mà còn là yêu cầu thực tiễn nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm, bền vững; đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích ngắn hạn của tăng trưởng kinh tế và lợi ích dài hạn của quốc gia - dân tộc, giữa nhu cầu phát triển hiện tại và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai của đất nước. Phát triển không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay, mà còn phải bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của con cháu mai sau. Quan điểm của Đảng ta xem bảo vệ môi trường là trụ cột của sự phát triển bền vững là sự khẳng định và quyết tâm thực hiện đạt được mô hình phát triển mà Đảng ta kiên định. Đây chính là nền tảng quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững, ổn định và lâu dài của đất nước trong bối cảnh mới.

Quan điểm, định hướng này còn xuất phát từ thực tiễn bảo vệ môi trường ở nước ta, bên cạnh một số thành tựu đạt được như: Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này được tăng cường; công tác bảo vệ rừng, trồng rừng và bảo tồn đa dạng sinh học có nhiều chuyển biến tích cực. Tăng trưởng kinh tế bước đầu thay đổi theo hướng chuyển đổi xanh, xuất hiện nhiều mô hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp xanh, đô thị xanh…thì bên cạnh vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề đáng báo động. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ “Ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là môi trường ở các đô thị lớn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các làng nghề. Khả năng của các cơ quan chức năng trong ứng phó, giảm thiểu tác hại của thiên tai và biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêu cầu. Việc quản lý, sử dụng tài nguyên, nhất là đất đai và nguồn nước hiệu quả chưa cao”[1].

Bên cạnh đó, Báo cáo cũng nêu rõ: Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn bất cập, chồng chéo. Ý thức chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Bảo vệ môi trường chưa trở thành ý thức, hành động, thói quen, nếp sống, văn hoá của người dân.

Quan điểm, định hướng đã có; tuy nhiên nếu không sớm quyết liệt trong triển khai thực hiện sẽ không đạt được mục tiêu đề ra. Do đó, để những quan điểm về bảo vệ môi trường được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIV sớm được triển khai có hiệu quả trong thực tiễn, cần lưu ý một số vấn đề trọng tâm sau:

Trước hết, các bộ, ngành cần khẩn trương, nhanh chóng tham mưu ban hành kịp thời các văn bản nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XIV thành các nghị định, thông tư, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường hiện có; đặc biệt là các quy định về kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon và thuế môi trường, cơ chế huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường nhằm hiện thực hóa cam kết Net Zero (mục tiêu phát thải rồng bằng 0) vào năm 2050.

Thứ hai, các cấp ủy đảng, chính quyền cần có chiến lược, kế hoạch hành động cụ thể để khắc phục khó khăn, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới; cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các mục tiêu, tiêu chí bảo vệ môi trường, đặc biệt trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới và các khu công nghiệp; có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp coi trọng áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng hai con số nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Tăng cường chế tài xử phạt vi phạm môi trường, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân trong bảo vệ môi trường sống. Để nâng cao nhận thức, ý thức, biến thành hành động hiệu quả trong các tầng lớp nhân dân; cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cần đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường. Văn kiện Đại hội XIV cũng đã nêu: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, huy động sự tham gia của toàn dân vào công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Rõ ràng để phát triển bền vững không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Vì vậy, cần đẩy mạnh giáo dục môi trường trong nhà trường, truyền thông đại chúng, thực hiện phong trào “toàn dân bảo vệ môi trường”. Từ đó hình thành văn hóa bảo vệ môi trường, mỗi cá nhân trong cộng đồng coi việc bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng lối sống xanh, tiết kiệm tài nguyên, hạn chế tối đa việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần như biểu hiện của văn minh và lòng yêu nước trong thời đại mới. Khi mỗi người dân có ý thức tốt, môi trường sống sẽ được cải thiện bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.

Một khi triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp sẽ tạo sự chuyển biến thực chất về bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay.

ThS Nguyễn Thị Thu Hiền

GVC Khoa Xây dựng Đảng


[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tập 1, trang 65

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001724267
Đang truy cập : 8