Super User
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
Tóm tắt: Bài viết nhấn mạnh vai trò và tính cấp thiết của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, phân tích những quan điểm đột phá mang tính chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thấy được sự quyết tâm của Đảng ta khi lấy con người làm trung tâm, là động lực then chốt để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khóa: Văn kiện Đại hội XIV, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đặt vấn đề: Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yêu cầu cấp thiết.
Nội dung
Khi đề cập đến nguồn nhân lực, đã có nhiều quan điểm khác nhau. Có thể hiểu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là phát triển toàn diện con người, bao gồm: thể lực, trí lực, và tâm lực như nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, cải thiện thể chất, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc, thành thạo kỹ năng quản trị công hiện đại, sử dụng tốt công nghệ số... để đạt được các mục tiêu chung.
1. Vai trò và tính cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh hiện nay
Karl Marx cho rằng: “con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội; con người là điểm khởi đầu và là điểm kết thúc của mọi quá trình biến đổi lịch sử; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng lao động; con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”[1]. Kế thừa và phát triển quan điểm của Karl Marx, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển đất nước. Người khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa” hay “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người chỉ rõ vai trò của yếu tố trí tuệ, coi nó là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực khi nói rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[2].
Thấm nhuần quan điểm của Marx và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, từ Đại hội VI (1986) đến nay, Đảng ta luôn coi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự thành, bại của cách mạng. Tuy nhiên, trong thực tiễn, mặc dù dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, nhưng chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay vẫn chưa có những chuyển biến rõ nét: vẫn thiếu nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao, kinh tế số…; công tác đào tạo chưa gắn kết chặt chẽ, thường xuyên; chất lượng giáo dục ở các cấp học vẫn còn hạn chế, mới đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước ở trình độ trung bình, theo chiều rộng, chưa đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao; nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao còn thiếu; nội dung xây dựng con người còn phiến diện, chỉ tập trung vào đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chưa chú ý giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vấn đề chấn hưng đạo đức xã hội có nơi, có lúc mới chỉ nhấn mạnh đến chống các tiêu cực và tệ nạn xã hội, chưa chú trọng kế thừa và phát huy các giá trị tích cực và tốt đẹp của văn hoá truyền thống và xây dựng các giá trị văn hoá, đạo đức mới.
Trong khi đó, trên phạm vi toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm thay đổi dần phương thức sản xuất truyền thống và cơ cấu thị trường lao động. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, trong đó lợi thế cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực.
Trước bối cảnh trên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã trở thành điều kiện tiên quyết đối với sự phát triển đất nước. Nhận thức rõ điều này, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định đây là một trong ba đột phá chiến lược, cùng với hoàn thiện thể chế và phát triển kết cấu hạ tầng, đồng thời đề ra hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
2. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV
Thứ nhất, nguồn nhân lực phải được phát triển toàn diện. Điều này được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIV: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, năng lực sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, gắn với gìn giữ, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”[3]. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ giỏi chuyên môn mà còn phải đúng chuẩn giá trị, có bản lĩnh chính trị, có tinh thần dân tộc và trách nhiệm xã hội, gìn giữ và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa. Văn kiện còn chỉ rõ khi phát triển nguồn nhân lực toàn diện, cần “chú ý khắc phục những mặt hạn chế, bất cập của con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đồng thời với các điều kiện vật chất và tinh thần để xây dựng và phát triển con người toàn diện”[4]. Đồng thời phát triển nguồn nhân lực toàn diện phải “gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[5].
Thứ hai, để phát triển toàn diện nguồn nhân lực, đòi hỏi phải đổi mới giáo dục và đào tạo. Trong đó “đổi mới đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế”[6]. Nghĩa là cập nhật liên tục chương trình đào tạo để bắt kịp công nghệ mới, xu hướng toàn cầu; chuyển từ nền giáo dục nặng về hàn lâm sang giáo dục phát triển năng lực, cần tăng cường kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, chú trọng phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo. Điều này cho thấy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở việc gia tăng bằng cấp hay số lượng các khóa bồi dưỡng, mà chuyển mạnh sang tiếp cận theo năng lực, theo vị trí việc làm, gắn chặt quá trình đào tạo, bồi dưỡng với đánh giá. Nói cách khác, nếu trước đây giáo dục chủ yếu tập trung vào việc người học “biết gì”, thì hiện nay trọng tâm phải chuyển sang việc người học “làm được gì” từ những kiến thức đã học.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khoa học, công nghệ. Văn kiện chỉ rõ: “tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số nhằm phát huy cao độ những giá trị văn hoá, sức mạnh và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam”. Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ như hiện nay, nguồn nhân lực không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải thành thạo công nghệ, có khả năng làm việc trong môi trường số hóa thì mới tăng năng suất lao động và hiệu quả công việc.
Thứ tư, phải “có cơ chế, chính sách hiệu quả đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài”[7]. Các văn kiện trước đây đã đề cập đến vấn đề thu hút, trọng dụng nhân tài nhưng hiệu quả chưa cao, môi trường làm việc chưa thực sự tạo điều kiện để phát huy năng lực sáng tạo, thì Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh phải “nghiên cứu, ban hành và thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài”[8], đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và những ngành có ý nghĩa chiến lược.
Thứ năm, ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các vùng, miền nơi thiếu hụt nhân lực chất lượng cao nhưng lại dư thừa lao động giản đơn. Cần thực hiện phân bổ nguồn nhân lực theo cơ cấu ngành nghề một cách khoa học: ưu tiên phát triển nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng xanh và kinh tế số tại các vùng động lực, vùng trọng điểm. Không để khu vực công “ôm” hết nhân lực chất lượng cao, mà cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đào tạo và sử dụng nhân lực; tạo sân chơi công bằng về đãi ngộ, sử dụng tài năng giữa hai khu vực.
Kết luận: Tóm lại, quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của kỷ nguyên đổi mới và hội nhập. Đảng không chỉ khẳng định con người giữ vị trí trung tâm mà còn nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, như “đòn bẩy” thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
ThS Trần Ngọc Bảo Vy
Tài liệu tham khảo
1. C.Mác - Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 2
2. Phạm Minh Hạc (2012), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNHHĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, 2026 tập 1,2.
4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ yêu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
[1] C.Mác - Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 2
[2] Tống Thị Hạnh (2018), Luận án tiến sĩ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các trường đại học việt nam trong hội nhập quốc tế”, tr47.
[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tr.270, tập 2.
[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tr.56, tập 2.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tr.55, tập 2.
[6] Tr61
[7] Tr270
[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Tr.268.
DẤU ẤN VƯỢT THỜI GIAN CỦA NGHỊ QUYẾT UNESCO 24C/18.6.5 (1987) TÔN VINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – “ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT CỦA VIỆT NAM”
Đặt vấn đề:
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Người là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ở Người, không chỉ là một nhà lãnh tụ thiên tài của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam mà tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người còn là hiện thân của văn hoá dân tộc, truyền thống yêu nước và kết tinh của những giá trị văn hoá của thời đại, là nguồn cỗ vũ tinh thần to lớn cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đấu tranh không ngừng nghỉ vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ cho toàn thể nhân loại cho đến tận hôm nay. Ghi nhận những đóng góp của Người UNESCO đã khẳng định và tôn vinh trong Nghị quyết UNESCO 24C/18.6.5 (1987), tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Gần 40 năm qua nhưng dấu mốc lịch sử của Nghị quyết UNESCO 24C/18.6.5 (1987) vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là niềm cổ vũ, động viên để toàn Đảng, toàn dân ta vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Dấu ấn; Nghị quyết UNESCO 24C/18.6.5; tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1.Dấu ấn của Nghị quyết 24C/18.6.5 (1987) khẳng định tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – tiêu biểu cho đạo đức, bản lĩnh, trí tuệ, văn hoá con người Việt Nam
Cách đây 39 năm tại Khóa họp lần thứ 24 từ ngày 20/10 – 20/11/1987 tại Paris - Cộng hoà Pháp, Đại Hội đồng của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết 24C/18.6.5 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/1990). Nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm và đề nghị Tổng giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp “bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người”. Nghị quyết được ban hành và lưu trữ đồng thời bằng “6 ngôn ngữ chính thức là: Pháp, Anh, Ả Rập, Trung Quốc, Tây Ban Nha và Nga”(1). Đây chính là “căn cứ pháp lý” tuyệt đối trước mọi nỗ lực xuyên tạc lịch sử, đảm bảo rằng thông điệp tôn vinh của quốc tế là nhất quán và không thể phủ nhận. Và vì thế giá trị văn hoá Hồ Chí Minh đã trở thành một phần của tinh hoa văn hoá nhân loại.
Để thấy được tầm vóc của Người cũng như sự ghi nhận của UNESCO chúng ta phải đi sâu vào tìm hiểu những quy định nền tảng được coi là cơ sở pháp lý của Tổ chức này tại Khóa họp lần thứ 24. Tại “Quyển I, Nghị quyết tổ chức Khoa học, Giáo dục và văn hóa của Liên Hợp quốc”(2), trong nội dung của phần “18.6. Các ngày lễ kỷ niệm”(3), có hai tiểu mục khẳng định căn cứ pháp lý quan trọng liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là “18.6.1. Lịch tổ chức các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử”(4) và “18.6.5. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tich Hồ Chí Minh”(5). Như vậy, Chủ tịch Hồ chí Minh được ghi nhận và khẳng định là một trong những nhân vật kiệt xuất theo Nghị quyết của UNESCO đồng thời khẳng định việc tổ chức các sự kiện vinh danh nhân “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh” với những nội dung rất cụ thể, trong đó, có ba lần Đại hội đồng nhắc đến thuật ngữ “nhận thấy”: “Nhận thấy, việc tổ chức ngày sinh các nhân vật tri thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần….sự hiểu biết trên thế giới”(6); “Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(7); “Nhận thấy những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(8). Đây chính là những nội dung được “ghi nhận” và “tôn vinh” trong Nghị quyết UNESCO nhân “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Kết quả này là thành quả của cả một quá trình 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn bể, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để thực hiện cho kỳ được khát vọng cháy bỏng nhất của Người là “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”(9). Và suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là dành tất cả tâm huyết, tình cảm, trí tuệ cho khát vọng cháy bỏng đó. Vượt ra ngoài biên giới Việt Nam, giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người còn là nguồn cảm hứng vô cùng mãnh liệt cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Vì lẽ đó, Người còn là kết tinh của giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam với những giá trị văn hoá tốt đẹp và tiến bộ của nhân loại. Sự kiện này đã nâng tầm di sản Hồ Chí Minh từ một biểu tượng dân tộc thành tài sản chung của nhân loại, xác lập một hệ giá trị đối thoại, là sợi dây kết nối văn hóa giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế.
2.Giá trị xuyên thế kỷ của một biểu tượng hòa bình
Nghị quyết 24C/18.6.5 của UNESCO không chỉ là một văn bản hành chính đơn thuần, cũng không chỉ là một quyết định tổ chức sự kiện nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà đó còn chính thức là một bản tuyên ngôn tôn vinh trí tuệ và phẩm giá con người tiêu biểu, đại diện cho dân tộc Việt Nam – Hồ Chí Minh. Nó khẳng định một chân lý vĩnh cửu: tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam mà đã hóa thân vào những giá trị cao đẹp nhất của tinh hoa văn hóa nhân loại. Vì, Nghị quyết đã ghi nhận và vinh danh đóng góp lớn nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thời đại là đã chỉ ra con đường cách mạng, phương pháp cách mạng để thức tỉnh những người bị áp bức ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và bản thân Người đã hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới.
Hiện nay, trong mối quan hệ hợp tác với các tổ chức lớn của thế giới, Việt Nam nổi lên như một đất nước có vai trò là sợi dây kết nối của các tổ chức trong khu vực và trên thế giới; trong đó biểu tượng thiêng liêng, cao quý được thể hiện ở giá trị của tinh thần quốc tế khi rất nhiều nơi trên thế giới từ Châu Á, Châu Âu đến Châu Phi, Châu Mỹ La tinh đã dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh để tưởng nhớ Người như một biểu tượng sáng ngời của ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do, cho hoà bình, hạnh phúc và những giá văn hóa tốt đẹp của thế giới. “Đến nay tượng và tượng đài tưởng niệm Hồ Chủ tịch đã có mặt tại khoảng 20 nước trên thế giới”(10). Nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ Nhân dân Việt Nam luôn kính trọng Người mà nhân dân các dân tộc bị áp bức, “những người cùng khổ” và bầu bạn khắp nơi trên thế giới, ở ngay cả những nước đã từng là thực dân, đế quốc xâm lược Việt Nam cũng dành cho Người với một sự tôn kính đặc biệt. Đó là một biểu tượng vĩnh cửu, bất diệt của hoà bình và văn hoá thế giới.
3.Kỷ nguyên mới-Việt Nam vươn mình để xứng đáng với những giá trị “anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(11). Viết tiếp những trang sử hào hùng của cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời đại mới, toàn dân tộc Việt Nam nguyện hiện thực mong ước của Người, xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” để “sánh vai với bè bạn năm châu”, với mục tiêu phát triển “…hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(12). Cùng với đó, Việt Nam cam kết thực hiện tốt các nhiệm vụ khi trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là những tổ chức liên quan trực tiếp đến quyền con người và bảo vệ con người để đóng góp vào vai trò của “sứ giả vì hòa bình”. Trong thời gian qua giá trị tiêu biểu đóng góp của “Việt Nam được được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng … như Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020 - 2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2023 - 2025, Uỷ ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của UNESCO, Uỷ ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 - 2027… Về tham gia các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1000 lượt sĩ quan quân đội, công an triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại Châu Phi và Trụ sở Liên hợp quốc ở New York; cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar”(13). Đây là những minh chứng rõ nét về đất nước, con người Việt Nam đã tiếp tục phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh cho hoà bình thế giới trong thế kỷ XXI. Trong thời gian tới toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần quán triệt và tập trung thực hiện những định hướng lớn sau:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại được đề ra tại Đại hội XIV của Đảng là “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước(14). Đối ngoại hoà bình là “một biểu tượng” của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Vì vậy cần quán triệt đầy đủ, sâu sắc hơn nữa đến toàn hệ thống chính trị và nhân dân về đường lối, phương châm đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao văn hóa - một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam - quảng bá văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh ở trong nước và nước ngoài, thực sự tạo “sức mạnh mềm” Việt Nam trong các quan hệ quốc tế, đó chính là sự đóng góp giá trị cho nhân loại về một nền hòa bình bền vững, dựa trên những giá trị văn hoá, dân tộc và thời đại. Cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, cần đẩy mạnh hơn nữa đối ngoại Nhân dân, trong đó văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là trọng tâm của ngoại giao công chúng với sự tham gia của đa chủ thể, sử dụng các phương tiện truyền thông đa dạng, nhằm tác động đến tình cảm, suy nghĩ của công chúng nước ngoài, tạo hình ảnh đẹp, hiệu ứng tích cực về đất nước, con người Việt Nam, qua đó tác động tới chính sách, quan hệ ngoại giao với chính phủ các nước, đồng thời lan toả “giá trị hoà bình Việt Nam” đến quan hệ các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ ba, tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, bảo vệ môi trường, đưa Việt Nam trở thành một điểm sáng về phát triển nhanh, phát triển xanh, phát triển bền vững. Phát triển kinh tế không chỉ để nâng cao đời sống nhân dân như ước nguyện “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Một Việt Nam phát triển năng động trên cơ sở “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”(15) không chỉ là biểu tượng thành công của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn là hình mẫu để nhiều quốc gia học tập. Đó cũng chính là sự góp phần thiết thực của Việt Nam vào “kiến thiết hoà bình thế giới trong kỷ nguyên mới”.
Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng biện pháp tổng hợp, trong đó nhấn mạnh đến nguyên tắc “bốn không” về quốc phòng và sử dụng các biện pháp hoà bình. Vì vậy việc xây dựng văn hóa hòa bình ngay trong lòng nhân dân cũng đóng vai trò không nhỏ. Ngày nay, hòa bình không chỉ bao hàm độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia mà còn là môi trường bền vững, an ninh con người, xã hội công bằng, hòa thuận, lối sống nhân văn, kinh tế bền vững, môi trường trong lành. Nghĩa là đưa đất nước, văn hoá, con người Việt Nam trở thành “sứ giả hoà bình” trong quan hệ quốc tế để thực sự “Nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại”(16) theo đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(17).
Kết luận: Dấu ấn vượt thời gian của Nghị quyết UNESCO 24C/18.6.5 chính là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho các dân tộc đang nỗ lực vươn lên tự khẳng định mình trong một thế giới nhiều biến động khó lường như ngày nay. Trách nhiệm của chúng ta hiện nay và thế hệ mai sau là tiếp tục bảo vệ sự tôn vinh của thế giới đối với “Hồ Chí Minh - hiện thân của con người Việt Nam” trong kỷ nguyên mới. Bảo vệ những giá trị của lịch sử được ghi nhận trong Nghị quyết UNESCO 24C/18.6.5 là luận cứ để chúng ta phản bác lại các quan điểm xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về giá trị thời đại của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời không ngừng lan tỏa di sản của Người như một “nhịp cầu” văn hóa, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, công bằng và phát triển bền vững.
ThS.Trần Thị Thuỳ
Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng
Tài liệu trích dẫn
(1). GS. TS. Mạch Quang Thắng, PGS. TS. Bùi Đình Phong, TS. Chu Đức Tính (Đồng chủ biên)."UNESCO với sự kiện tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất".Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật.HN.2014, tr.72.
(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8). GS. TS. Mạch Quang Thắng, PGS. TS. Bùi Đình Phong, TS. Chu Đức Tính (Đồng chủ biên)."UNESCO với sự kiện tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất".Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật.HN.2014, tr65; tr/66-67; tr.67, tr.72-73, tr.73.
(11). Đảng Cộng sản việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1991, tr. 21
(12). Đảng Cộng sản việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, NXB chính trị quốc gia sự thật, HN 2026, tr.84.
(13). Đảng Cộng sản việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, NXB chính trị quốc gia sự thật, HN 2026, tr.144-145.
(14) (16). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2026, tr.37, tr.38
(15). Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV
(17). Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh





