Thứ tư, 10/06/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI (19/5/1890 - 19/5/2026)!

Super User

Super User

Tóm tắt: Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định kiên định và nhất quán con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn cách mạng. Những quan điểm  về con đường đi lên CNXH của Đại hội có ý nghĩa quan trọng định hướng chiến lược lâu dài xây dựng, phát triển đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.

Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội, Đại hội XIV, con đường…

1. Mở đầu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 19 đến 23/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội, là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đánh dấu chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, đan xen thời cơ và thách thức. Đại hội với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển đã thể hiện quyết tâm của “Toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết thống nhất, quyết tâm vững bước tiến tới hai mục tiêu chiến lược: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045)[1]”. Qua đó khẳng định con đường đi lên CNXH không còn là hành trình "thăm dò" hay "vượt khó" đơn thuần, mà là hành trình bứt phá để sánh vai với các cường quốc năm châu. Điều này giúp người học thay đổi tâm thế từ "tiếp nhận thụ động" sang "chủ động đóng góp" vào mục tiêu chung. Đặc biệt khi phân tích và lý giải các nội dung của chuyên đề việc vận dụng, làm rõ những thành tựu có ý nghĩa lịch sử qua 40 năm đổi mới “kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại”[2]

2. Nội dung

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, khi lần đầu tiên yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển được đặt ra một cách toàn diện, nhất quán và mang tầm chiến lược dài hạn. Đại hội đã đưa ra những định hướng lớn đi lên CNXH trong thời gian tới với nội dung chủ yếu sau:

* Nội dung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đại hội lần thứ XIV của Đảng  đã có những định hướng, đổi mới tư duy chiến lược mang tính đột phá về mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa gắn liền với kỷ nguyên mới. Việc kết hợp hài hòa giữa tự chủ kinh tế và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu là hướng đi đúng đắn để xây dựng nền công nghiệp tự cường. Đặc biệt, tư duy quy hoạch hiện đại như mô hình TOD, kinh tế không gian tầm thấp và ngầm, cùng chính sách phát triển nhà ở xã hội thể hiện triết lý phát triển bền vững, lấy người dân làm trung tâm. Đây là bệ phóng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đảng ta khẳng định “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, xây dựng và hiện đại hoá nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính, lấy hội nhập quốc tế làm phương thức để huy động mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đẩy nhanh tốc độ nâng cao chất lượng đô thị hoá bảo đảm kết hợp đồng bộ và hài hoà giữa cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị với phát triển các đô thị mới. Chú trọng mô hình phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng (TOD), phát triển kinh tế không gian tầm thấp, khai thác hiệu quả không gian ngầm, nhất là tàu điện ngầm tại các đô thị lớn. Mở rộng các loại hình nhà ở, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội”[3]… Đây là một trong những định hướng giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa để thực hiện bằng được mục tiêu: “đưa đất nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030; thiết thực kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và ước vọng của toàn thể dân tộc ta”[4].  

*Về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định tầm nhìn chiến lược khi đặt chuyển đổi mô hình tăng trưởng làm trọng tâm. Trong đó việc kết hợp hài hòa giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và động lực mạnh mẽ từ kinh tế tư nhân tạo nên thế kiềng ba chân vững chắc cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, việc lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh làm động lực chính là bước đi đột phá hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại. Định hướng này không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững, hài hòa với môi trường, nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, Đảng tiếp tục khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ là: “Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới; phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường sinh thái”[5].  

* Về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đại hội lần thứ XIV đã khẳng định, đưa ra tầm nhìn chiến lược về vai trò của văn hóa. Trong đó nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế gắn liền với bốn giá trị cốt lõi: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, tạo hành lang pháp lý vững chắc. Định hướng phát triển văn hóa "ngang tầm" với kinh tế, chính trị là tư duy đột phá, đưa văn hóa từ vai trò "phụ trợ" trở thành nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững quốc gia. Đảng ta khảng định việc xây dựng đồng bộ các hệ giá trị quốc gia, gia đình và chuẩn mực con người chính là mục tiêu then chốt, định hình sức mạnh nội lực Việt Nam trong giai đoạn mới. Đảng bổ sung, phát triển và khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các giá trị cơ bản: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học; bảo đảm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hoá thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới”[6]; “Xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển. Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình già hoá dân số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý trên cơ sở hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Khuyến khích các mô hình, cách làm sáng tạo trong quản trị phát triển cộng đồng bền vững”[7].

* Về bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Định hướng chiến lược của Đại hội XIV khẳng định tư duy nhất quán, toàn diện về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Điểm cốt lõi là sự gắn kết chặt chẽ giữa "xây dựng" và "bảo vệ" Tổ quốc, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên cao nhất. Đảng ta không chỉ mở rộng nội hàm an ninh sang các lĩnh vực phi truyền thống (mạng, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước) mà còn đặc biệt nhấn mạnh "an ninh con người" và "thế trận lòng dân". Đây là bệ đỡ vững chắc để kết hợp sức mạnh quốc phòng, kinh tế với phát huy sức mạnh mềm văn hóa, đối ngoại, tạo thế và lực mới đưa đất nước phát triển bền vững. Đảng xác định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hoá dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh chế độ, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh kinh tế - tài chính, an ninh mạng - dữ liệu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước…; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước. Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động vững chắc. Thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước”[8].

* Về thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng có bước bổ sung, phát triển và làm sâu sắc thêm nội hàm phương hướng: “Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương”; “Nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại. Phát huy hiệu quả các phương thức ngoại giao đa dạng, đặc biệt là ngoại giao cấp cao, ngoại giao chuyên ngành”; “Thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng, tiềm năng khác đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định, tăng độ tin cậy và bền vững lâu dài. Tranh thủ và phát huy tối đa cơ hội từ các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện”; “Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương; đề cao, bảo vệ và phát huy vai trò của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; vai trò thành viên chủ động, tích cực, quan trọng và có trách nhiệm tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là các cơ chế có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước như: ASEAN, Liên hợp quốc, hợp tác tiểu vùng Mê Công, APEC...; phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể; chủ động tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương”[9]...

* Về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Theo tinh thần đó, Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; nêu cao trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân. Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ hình thức”[10]. Nội dung thể hiện bước tiến lớn trong tư duy quản trị chuyển từ dân chủ hình thức sang thực quyền bằng cơ chế tin cậy, thể hiện mối quan hệ hai chiều bình đẳng. Nhân dân không chỉ tham gia thụ động, mà có quyền quyết định vận mệnh quốc gia. Ngược lại, các cơ quan quyền lực phải chịu áp lực "giải trình" – một bước ngoặt xóa bỏ tư duy hành chính. Chống dân chủ hình thức và siết chặt dân chủ cơ sở chính là chìa khóa giải phóng nguồn lực lòng dân, biến quyền lực nhân dân thành động lực phát triển thực chất.

*Về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đại hội XIV đã thể hiện tầm nhìn chiến lược về đổi mới thể chế trong kỷ nguyên mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền không còn là nhiệm vụ tách biệt, mà được đặt trong chỉnh thể thống nhất với công tác chỉnh đốn Đảng và quản trị quốc gia hiện đại. Mấu chốt của tinh thần này là chuyển dịch từ "quản lý" thuần túy sang "bảo vệ công lý và quyền con người" thông qua thượng tôn pháp luật. Đặc biệt, định hướng nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp 2013 chính là bước chuẩn bị pháp lý tối cao, tạo dư địa thể chế vững chắc để giải phóng mọi nguồn lực xã hội, đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới. Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới”[11].

* Về xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh. Với yêu cầu xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ là: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đổi mới đồng bộ phương thức và nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện để tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Triển khai hoạt động có hiệu quả tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo mô hình mới bảo đảm vận hành thông suốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ bảo đảm thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”[12]. Nội dung khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ về đổi mới toàn diện phương thức lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt nhấn mạnh việc vận hành bộ máy theo mô hình mới phải đi đôi với kiểm soát quyền lực nghiêm ngặt để triệt tiêu tham nhũng, lãng phí. Trong đó khâu công tác cán bộ được định vị là "vũ khí chiến lược", chuyển mạnh từ bằng cấp sang thực chất nhằm chọn lọc người vừa có đức, có tài, vừa có năng lực tư duy đổi mới, sáng tạo dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mục tiêu tối thượng của cải cách này không chỉ là nâng cao hiệu lực quản trị Nhà nước pháp quyền, mà cốt lõi là củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào chế độ.

3.Kết luận

Quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận khoa học và thực tiễn sinh động. Điều này khẳng định vị thế một Việt Nam tự tin, bản lĩnh và chủ động trước thời đại. Thay vì một mô hình xơ cứng, chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam được định nghĩa là một quá trình đổi mới không ngừng, lấy sự hưởng thụ, hạnh phúc của nhân dân làm thước đo và mục tiêu cao nhất. Với những định hướng chiến lược đúng đắn, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng vào một kỷ nguyên "vươn mình" thật sự của dân tộc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, bốn biển, đưa đất nước vững bước trên hành trình hướng tới tương lai phồn vinh và hạnh phúc./.

ThS. Tô Văn Bẩy

Giảng viên - khoa lý luận cơ sở


* Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, Tập I, II.

2. Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin, Nxb Lý luận chính trị, 2021.

3. Bài viết “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” GS, TS Tô lâm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí cộng sản, ngày 01/11/2024./.

 [1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb chính trị quốc gia sự thật,  tập I, tr 13;14

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb chính trị quốc gia sự thật,  tập I, tr 71; 72

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 94.

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 148 - 149

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 144 -145.

[6] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 89.

[7] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 108.

[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 113 - 114.

[9] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 118-119.

[10] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 121 -122.

[11] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 126.

[12] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr 114.

Tóm tắt: Trước bối cảnh đất nước lầm than và các phong trào yêu nước đều thất bại, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nuôi chí ra nước ngoài tìm con đường cứu nước. Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Bác rời bến cảng Nhà Rồng trên con tàu La Touche De Tréville. Qua nhiều năm bôn ba, Người đã tìm thấy con đường cách mạng vô sản phù hợp cho dân tộc nhờ Luận cương của Lê-nin. Năm 1941, Người trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, mở đầu cho chuỗi thắng lợi hiển hách của dân tộc như: Cách mạng tháng Tám (1945), chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) và đại thắng mùa xuân 1975 thống nhất đất nước. Hành trình lịch sử ấy cùng tư tưởng của Bác vẫn luôn là ngọn đuốc soi sáng cho các thế hệ Việt Nam tiếp tục vững bước xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.

Từ khóa: Bác Hồ, tìm đường cứu nước, cách mạng vô sản.

1. Bối cảnh lịch sử và mệnh lệnh cấp thiết của thời đại

Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng đánh vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược. Do thiếu đường lối chỉ đạo đúng đắn và quyết tâm kháng chiến của triều đình nhà Nguyễn, cuối cùng Việt Nam đã rơi vào tay thực dân Pháp. Hiệp ước ngày 06/6/1884 (Hiệp ước Patơnốt) đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến nước ta trước thế lực xâm lăng, kết thúc giai đoạn tồn tại của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập.

Trái ngược với thái độ của triều đình Huế, ngay từ đầu Nhân dân Việt Nam đã đứng dậy chiến đấu chống Pháp. Cuộc chiến tranh Nhân dân bền bỉ, kiên cường, có nhiều phong trào của các văn thân sĩ phu yêu nước nổ ra như phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông kinh nghĩa thục của Phan Bội Châu...nhưng tất cả đều có chung một điểm kết: thất bại. Đời sống Nhân dân lầm than, các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam không chỉ bị bóc lột về kinh tế, mà còn phải chịu nỗi nhục mất nước. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bọn phản động tay sai ngày càng sâu sắc. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng Nhân dân lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Trước tình hình đó, việc tìm ra một con đường cứu nước mới, một giai cấp tiên tiến lãnh đạo đấu tranh trở thành mệnh lệnh cấp thiết của lịch sử.

2. Nuôi dưỡng chí lớn từ thuở thiếu thời

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho tại vùng quê Nghệ An giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh quật khởi, người thanh niên Nguyễn Tất Thành từ nhỏ đã được chứng kiến sự thất bại của các phong trào chống Pháp. Từ nhỏ Người được tiếp xúc với các thầy giáo Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân; được nghe nhiều câu chuyện qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Cùng thời gian đó, Người còn được nghe kể về những hành động của những vị vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân. Người dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc tiền bối trước cảnh nước mất, nhà tan. Vì vậy, từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc đã có lòng căm thù bọn bán nước và bọn cướp nước, có chí đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào.

Do vậy, từ nhỏ, khi được được thân phụ cho đi học Tại Trường Tiểu học Vinh (Nghệ An), Nguyễn Tất Thành chú ý đến ba từ tiếng Pháp được sơn vào gỗ gắn phía trên bảng đen: Tự do (Liberté) - Bình đẳng (Égalité) - Bác ái (Fraternité). Tìm hiểu những từ này, Nguyễn Tất Thành biết đó là khẩu hiệu nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Đây là điều hoàn toàn mới lạ, nó rất khác với những điều mà Anh được học trong sách vở, khác với cả những cảnh được mắt thấy tai nghe từ những người Pháp đối xử với đồng bào mình. Người nhớ lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế... Trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người ta như con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”[1].

Như vậy, Khác với các bậc tiền bối đi trước, Nguyễn Tất Thành quyết định sang phương Tây để tìm hiểu xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi trở về giúp đỡ đồng bào. Người nhận thức đúng đắn rằng: Muốn đánh đổ kẻ thù, trước hết phải biết rõ kẻ thù đó. 

3. Bước ngoặt lịch sử tại bến cảng Nhà Rồng

Rời Quy Nhơn, Bác dừng chân ở Phan Thiết. Ở đây, Anh xin vào làm trợ giáo (moniteur), được giao dạy một số môn, đồng thời phụ trách các hoạt động ngoại khoá của Trường Dục Thanh, một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907. Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ (Montesquieu). Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc ý chí xuất dương của Người.

Tháng 02/1911, nung nấu quyết tâm đi tìm một con đường cứu nước mới, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từ Phan Thiết vào Sài Gòn, vượt qua những khó khăn khắc nghiệt của thời tiết, tìm cơ hội thực hiện ý định cháy bỏng đó. Đây chính là bước ngoặt quan trọng, một sự lựa chọn lịch sử có ý nghĩa quyết định, mở đầu cho quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành. Ở đây, Anh đã làm quen với những thanh niên cùng lứa tuổi đang làm thợ hoặc học nghề ở trường kỹ nghệ thực hành, làm quen với những hiệu giặt là ở gần cảng Nhà Rồng chuyên giặt quần áo cho các thủy thủ trên tàu của Pháp. Trong những ngày đó, anh thường xuyên đến bến cảng Sài Gòn. Hình ảnh những chiếc tàu neo bến làm lòng anh không yên.

Ngày 05/6/1911, trên con tàu La Touche De Tréville từ cảng Sài Gòn, tự giới thiệu là Văn Ba xin làm phụ bếp, vị thuyền trưởng hỏi anh có thể làm được gì trong nhà bếp, Anh chỉ có một câu trả lời duy nhất: “Tôi có thể làm tất cả những gì ông cần!”. Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định xuất dương tìm đường cứu nước của một con người mà lịch sử đã chứng minh là táo bạo, chính xác, sáng suốt và phi thường.

4. Hành trình gian khổ và bước ngoặt tìm thấy ánh sáng Cách mạng

Làm việc tất bật trên tàu từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, người thanh niên gầy gò ấy luôn hoàn thành xuất sắc mọi công việc, kể cả những việc hoàn toàn mới mẻ như gọt củ cải, khoai tây. Bằng sự chăm chỉ và chân thành, Anh đã khiến thủy thủ và đầu bếp trên tàu nể phục, kết bạn và học hỏi được ngoại ngữ. Cũng từ đây, Anh rút ra kinh nghiệm đầu tiên quý giá: Cũng có cả những người Pháp tốt bụng. Nhận thức này đã đặt nền móng quan trọng cho tư duy ngoại giao của Người sau này đối với đất nước và con người Pháp.

Cuộc hành trình lịch sử kéo dài qua 3 đại dương, 4 châu lục (Á, Âu, Phi, Mỹ) với gần 30 quốc gia và hàng trăm thành phố lớn nhỏ đã giúp Nguyễn Tất Thành thấu hiểu bản chất của thế giới. Người nhận ra rằng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[2].

Tháng 7 nǎm 1920 qua báo Nhân đạo (L'Humanité) Pháp, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, Người đã viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[3].

Từ bước ngoặt vĩ đại đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[4].

5. Trở về lãnh đạo Cách mạng và những trang sử vàng chói lọi

Năm 1941, sau hơn 30 năm bôn ba nước ngoài, rời xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiêu biểu là cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Pháp, một chiến công vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cổ vũ phong trào chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc trên thế giới.

Tiếp nối xuyên suốt tư tưởng cách mạng của người, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên đại thắng mùa xuân 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Đây là một trong những thắng lợi hiển hách nhất của dân tộc Việt Nam, là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất và tiếp tục vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

6. Sống mãi cùng non sông đất nước

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu là một cuộc hành trình không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Dù Bác đã đi xa, nhưng trong lòng các thế hệ người dân Việt Nam, Người vẫn sống mãi. Tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác tiếp tục là ngọn đuốc soi rọi con đường đi lên của đất nước.

Nhắc lại hành trình cứu nước từ bến cảng Sài Gòn, mỗi chúng ta lại thêm khắc ghi lòng biết ơn vô hạn đối với những hy sinh lớn lao của Người. Ngày nay, bước vào một kỷ nguyên mới của hội nhập và phát triển, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta nguyện vững bước trên con đường cách mạng đã chọn, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước nguyện sinh thời của Bác./.

ThS. Huỳnh Văn Thông

Khoa Nhà nước và Pháp luật


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 1, tr. 461

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 1 tr. 287.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 12 tr. 562.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15 tr. 588.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001748445
Đang truy cập : 14