Super User
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIẢNG DẠY TẠI KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG, TRƯỜNG CHÍNH TRỊ LÂM ĐỒNG
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Tại Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, chuyển đổi số góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao hiệu quả truyền đạt kiến thức, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên nhằm xây dựng môi trường học tập hiện đại.
Từ khóa: Chuyển đổi số; lý luận chính trị; Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng
1. Mở đầu
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) phát triển mạnh mẽ, khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia. Đảng ta xác định phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là những nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. CĐS không chỉ là xu thế tất yếu, khách quan mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo.
Đối với hệ thống các trường chính trị, CĐS trong giảng dạy có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (LLCT) theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả. Tại Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy không chỉ hỗ trợ giảng viên cập nhật tri thức nhanh chóng, đa dạng hóa phương pháp truyền đạt mà còn tăng cường tính tương tác, phát huy tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng tự học của học viên. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới.
2. Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1. Quan điểm chỉ đạo về chuyển đổi số
Trong bối cảnh thế giới đang có nhiều thay đổi từ sự tác động của cuộc Cách mạng 4.0, nhận định rõ vị trí, vai trò của CĐS đối với sự phát triển toàn diện của đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng 4.0. Nghị quyết khẳng định: “Xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia. Hình thành hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu vùng và địa phương kết nối đồng bộ và thống nhất. Hình thành các hệ thống dữ liệu tin cậy, ổn định của Nhà nước và doanh nghiệp. Đầu tư trang bị các hệ thống thiết bị thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ dữ liệu công.”[1]
Tiếp đó, Đảng ta cũng đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia. Nghị quyết tiếp tục khẳng định cần phải “đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.”[2]
Quán triệt sự chỉ đạo của Đảng, thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã tăng cường chỉ đạo, điều hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh trong việc thực hiện ĐMST và CĐS như: Quyết định số 100/QĐ-TU, ngày 06/8/2025 về việc thành lập Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và CĐS tỉnh; Kế hoạch hành động số 08-KH/TU, ngày 29/8/2025 thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Trong giảng dạy LLCT, CĐS là quá trình ứng dụng toàn diện công nghệ số, dữ liệu số và các nền tảng số vào hoạt động đào tạo nhằm đổi mới phương thức tổ chức dạy học, nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0 và xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, CĐS đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các cơ sở đào tạo, trong đó, có Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng.
Để nâng cao hiệu quả CĐS vào giảng dạy tại Trường Chính trị Lâm Đồng, Đảng uỷ trường đã ban hành Kế hoạch Số 02-KH/ĐU, ngày 03/11/2025 về tuyên truyền và triển khai thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”, chỉ đạo từng bước triển khai các nội dung liên quan đến CĐS trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng.
2.2. Thực trạng chuyển đổi số trong giảng dạy tại Khoa Xây dựng Đảng
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, sự phối hợp giữa các đơn vị và sự nỗ lực phấn đấu của các giảng viên. Những năm qua, việc thực hiện CĐS trong quản lý và giảng dạy tại Khoa Xây dựng Đảng đã đạt được một số kết quả khả quan:
Thứ nhất, trong công tác phối hợp với các khoa, phòng, các giảng viên đã xây dựng dữ liệu số hóa, sử dụng phần mềm kê khai giờ giảng, giờ khoa học một cách nhuần nhuyễn. Sử dụng thành thạo các phần mềm trực tuyến của nhà trường trong phục vụ kiểm tra, đánh giá, truy cập hệ thống dữ liệu trực tuyến cũng như rà soát các công việc liên quan. Đặc biệt sử dụng Hệ thông tin điều hành tác nghiệp các cơ quan Đảng (ICPV) để tiếp nhận và xử lý các nội dung công việc một cách đồng bộ, hiệu quả
Thứ hai, đa số giảng viên đã nhanh chóng thích ứng vận dụng công nghệ số vào giảng dạy, trình độ công nghệ thông tin (CNTT) của giảng viên trong Khoa ngày càng được nâng lên. Cùng với sự phát triển của công nghệ số hóa, các nền tảng số hóa ra đời được giảng viên ứng dụng vào trực tiếp công tác giảng dạy ngày càng phong phú, đa dạng. Các giảng viên đã tích cực tham gia các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng sư phạm số; tăng cường học tập nâng cao trình độ ứng dụng CNTT vào giảng dạy đạt hiệu quả cao.
Thứ ba, các giảng viên đã không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học viên. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả truyền đạt tri thức LLCT, đồng thời gắn nội dung lý luận với thực tiễn. Chủ động xây dựng các tình huống và hướng xử lý các tình huống gắn liền với thực tiễn, đặc biệt là gắn liền những địa bàn mang tính đặc thù.
Thứ tư, khả năng ứng dụng công nghệ số hóa vào giảng dạy của giảng viên ngày càng đạt hiệu quả. Thay vì chỉ sử dụng giáo án truyền thống, đã có nhiều giảng viên của khoa đã tích cực ứng dụng CNTT vào quá trình giảng dạy như sử dụng giáo án điện tử, sử dụng phần mềm trình chiếu PowerPoint, Google Slides, khai thác video tư liệu, hình ảnh minh họa, tài liệu điện tử phục vụ bài giảng, giúp làm rõ các khái niệm lý luận trừu tượng, qua đó giúp học viên dễ tiếp cận và dễ ghi nhớ hơn. Bên cạnh đó, một số giảng viên đã khai thác và sử dụng các công cụ trực tuyến vào việc khảo sát nhanh hoặc thu thập ý kiến phản hồi của học viên từ các câu hỏi phát vấn, chia nhóm để trả lời câu hỏi…
Mặc dù đã đạt những kết quả bước đầu khá khả quan. Song, việc triển khai thực hiện CĐS vào giảng dạy tại Khoa Xây dựng Đảng vẫn còn tồn tại những khó khăn hạn chế như:
Vẫn còn một số ít giảng viên gặp khó khăn trong việc chuyển đổi phương pháp dạy học. Giảng viên không theo kịp công nghệ có thể ngại đổi mới, có tâm lý e dè nên tiếp cận chậm với phần mềm dạy học mới đang được thay đổi, nâng cấp tiên tiến hơn.
Cơ sở vật chất phục vụ CĐS trong giảng dạy còn hạn chế. Chất lượng và phạm vi phủ sóng của mạng internet đã được đầu tư, nâng cấp đường truyền nhưng còn thiếu tính ổn định và chưa rộng khắp. Do đó chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các hoạt động dạy học ứng dụng công nghệ số. Một số thiết bị đã được sử dụng trong thời gian dài, đã hư hỏng, xuống cấp, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của quá trình ứng dụng CĐS trong giảng dạy. Việc triển khai các hệ thống phần mềm quản lý vẫn còn ở mức độ nhất định, chưa hình thành được một hệ thống quản lý đào tạo số đồng bộ và tích hợp nhiều chức năng.
Vấn đề về an toàn và bảo mật thông tin trong thực hiện CĐS vào giảng dạy LLCT cũng là khó khăn. Khi giảng viên đăng ký, đăng nhập các tài khoản để thuận tiện trong việc khai thác dữ liệu số đồng nghĩa với những nguy cơ rủi ro như: lộ lọt thông tin cá nhân, dễ mất tài khoản cá nhân, các nguồn virus độc hại dễ dàng xâm nhập. Bên cạnh đó, các quy định về bảo mật thông tin chưa được xây dựng thành một hệ thống quy trình đầy đủ và đồng bộ.
3. Một số giải pháp
Để thực hiện có hiệu quả việc CĐS vào giảng dạy LLCT, cần có sự thay đổi một cách đồng bộ từ đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp phù hợp môi trường số. Bên cạnh đó, cần thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng cho người dạy và người học nhằm nâng cao năng lực, trình độ sử dụng công nghệ số hóa, đồng thời nhận diện những nguy cơ, rủi ro nhằm đảm bảo an ninh dữ liệu cá nhân, tập thể.
Một là, cần nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên ý nghĩa, tầm quan trọng của CĐS trong giảng dạy LLCT. Qua đó, giúp đội ngũ giảng viên hiểu rõ tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy; chủ động tìm hiểu học tập nâng cao trình độ CNTT, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong giảng dạy học tập LLCT của khoa nói riêng, của nhà trường nói chung.
Hai là, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo nhằm chuyển giao công nghệ, đào tạo chuyên sâu giúp giảng viên tiếp cận đến những công nghệ mới, hiện đại một cách nhanh chóng, hiệu quả. Đồng thời, giúp cho giảng viên biết tự bảo mật thông tin các nhân, hạn chế sự xâm nhập của những nguồn virus độc hại.
Ba là, các giảng viên cần tích cực, chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy những học phần do khoa đảm nhận. Kết hợp hiệu quả giữa các phương pháp giảng dạy truyền thống với các phương pháp giảng dạy hiện đại, sử dụng công nghệ số nhằm tăng cường tính trực quan, sinh động và khả năng tương tác trong bài giảng.
Bốn là, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu CĐS. Nâng cấp phần mềm tác nghiệp, xây dựng kho dữ liệu số hóa phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy các chương trình đào tạo, bồi dưỡng.
4. Kết luận
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0 phát triển mạnh mẽ, CĐS đã và đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý. Đối với Khoa Xây dựng Đảng, việc đẩy mạnh CĐS trong giảng dạy không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ. Trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cấp hạ tầng công nghệ, bồi dưỡng kỹ năng số cho giảng viên, đổi mới tư duy quản lý và tăng cường khai thác dữ liệu số trong hoạt động giảng dạy. Qua đó, góp phần xây dựng Khoa Xây dựng Đảng ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn mới, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng.
ThS. Lương Văn Quỳnh
Phó trưởng khoa Xây dựng Đảng
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2019): Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
2. Bộ Chính trị (2024): Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I, II), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
[1] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
[2] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC NHIỆM VỤ MỚI THEO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
Tóm tắt: Đại hội XIV của Đảng đề ra các nhiệm vụ mới trong xây dựng Đảng trên ba phương diện: chính trị, tư tưởng và đạo đức gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện nền tảng lý luận, tăng cường định hướng thông tin và tổng kết thực tiễn lãnh đạo cách mạng, qua đó, hướng tới xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Đại hội XIV; xây dựng Đảng; nhiệm vụ mới.
1. Mở đầu
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng mang tính toàn diện và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới. Các nội dung được xác định không chỉ kế thừa thành tựu lý luận và thực tiễn mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn trên cả ba phương diện: chính trị, tư tưởng và đạo đức. Đây là sự cụ thể hóa yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh mới; đồng thời, phản ánh quyết tâm chính trị trong việc xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh từ gốc. Những định hướng này có ý nghĩa nền tảng đối với việc củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và xây dựng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Điểm mới về nhiệm vụ xây dựng Đảng trên các mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Thứ nhất, trong xây dựng Đảng về chính trị: Đại hội XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ mới là phải kế thừa, bổ sung, phát triển Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh, Điều lệ Đảng chính là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện nền tảng chính trị, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Đảng ta đề ra nhiệm vụ mới này bởi vì đến năm 2031 là tròn 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đến Đại hội XIV của Đảng đã đánh dấu thời điểm quan trọng: Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; do đó, việc tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là rất cần thiết để bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Bên cạnh đó, Điều lệ của Đảng hiện nay đã được ban hành từ Đại hội XI (2011). Các Đại hội XII, XIII, XIV điều chỉnh bằng các quy định của Ban Chấp hành Trung ương, trong khi quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và lãnh đạo cách mạng, nhận thức của Đảng đã có nhiều phát triển, nhất là tình hình hiện nay đã có nhiều thay đổi đòi hỏi phải có bổ sung, điều chỉnh các quy định về tổ chức, hoạt động của Đảng. Vì vậy, việc tổng kết, bổ sung, phát triển Điều lệ của Đảng phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới là rất cần thiết.
Thứ hai, trong xây dựng Đảng về tư tưởng: Đại hội XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ mới là tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030).
Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng không chỉ là hoạt động khoa học mà còn là quá trình khẳng định giá trị lịch sử, củng cố niềm tin và định hướng tương lai. Đảng ta đề ra nhiệm vụ mới này vì ngày 03/02/2030 sẽ đánh dấu 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2030). Đây không chỉ là sự kiện trọng đại đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là dấu mốc quan trọng đối với toàn thể nhân dân Việt Nam, cũng như sự phát triển của đất nước và phong trào cộng sản quốc tế.
Với dấu mốc 100 năm thành lập Đảng, việc tổng kết 100 năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết. Đây không chỉ là một hoạt động kỷ niệm mang tính lịch sử, mà còn là một quá trình nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn rất quan trọng trong hoạt động tư tưởng, lý luận của Đảng, giúp đánh giá sâu sắc, toàn diện sự lãnh đạo của Đảng, để củng cố, phát triển và định hướng cho tương lai của Đảng và dân tộc Việt Nam. Tổng kết là để làm sâu sắc những thành tựu vĩ đại mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đến công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho tương lai. Những bài học kinh nghiệm và đánh giá sẽ là cơ sở quan trọng để Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.
Việc tổng kết giúp nhận diện những cơ hội và thách thức mới, những yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi; đề xuất mục tiêu, các định hướng lớn trong lãnh đạo cách mạng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới.
Đồng thời, Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ là lãnh đạo tốt công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, truyền thông; quản lý có hiệu quả an ninh mạng.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và thách thức an ninh mạng, yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, truyền thông càng trở nên cấp bách và có ý nghĩa chiến lược. Công tác tuyên truyền có nhiệm vụ tạo sự đồng đồng thuận xã hội trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, lan tỏa những giá trị tích cực, các mô hình hay và cách làm sáng tạo để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, huy động nguồn lực trong toàn Đảng, toàn dân để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội đề ra.
Bên cạnh đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, thông tin lan truyền với tốc độ nhanh chóng, khiến việc kiểm soát thông tin trở nên khó khăn hơn. An ninh mạng hiện nay không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là an ninh quốc gia. Các thế lực thù địch liên tục sử dụng không gian mạng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, xuyên tạc lịch sử và bôi nhọ cán bộ… Do đó, công tác truyền thông và an ninh mạng phải đi trước một bước để định hướng dư luận, không để bị động trước các luồng thông tin sai lệch. Báo chí và xuất bản được coi là vũ khí sắc bén để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Tuyên truyền tốt giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH trong giai đoạn mới. Quản lý tốt mạng xã hội giúp ngăn chặn thông tin xấu độc, bảo vệ bí mật nhà nước và sự an toàn của hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia.
Thứ ba, trong xây dựng Đảng về đạo đức: Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ phải nâng cao hơn nữa nhận thức xây dựng Đảng về đạo đức trong cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức cách mạng... Nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới.
Xây dựng Đảng về đạo đức được nhấn mạnh như một trụ cột, góp phần giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao uy tín và sức chiến đấu của Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa có tính chiến lược, ảnh hưởng đến sinh mệnh của Đảng cầm quyền. Chính vì vậy, trong thời gian tới cần quan tâm hơn đến việc nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức.
3. Kết luận
Trong tiến trình phát triển mới của đất nước, những nhiệm vụ mới trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức được xác định tại Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng. Đây là cơ sở để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng dẫn dắt đất nước trong bối cảnh nhiều thách thức; là yếu tố then chốt bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Việc triển khai hiệu quả các nhiệm vụ này đòi hỏi sự thống nhất về nhận thức và quyết tâm chính trị, hành động trong toàn hệ thống chính trị; qua đó, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của Đảng; là điều kiện tiên quyết tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững và đúng định hướng xây dựng đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
ThS Chu Thị Thu Trang
GV Khoa Xây dựng Đảng
* Tài liệu tham khảo
1. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2026), Tài liệu hỏi - đáp về nội dung cơ bản của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.






